Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

thiền định, tứ thiền bát định

226 câu · trang 2/76

Kính thưa Thầy,

Thầy dạy rằng khi ngồi Thiền chỉ cần buông xả ra, đối tượng nào đến thì hay biết là đủ. Trong khi có một số sách dạy Thiền Vipassana (của các Thiền sư nổi tiếng) là phải quán phồng xẹp của bụng, đồng thời vẫn hay biết khi có các đối tượng khác đến. Hiện nay con đang thực hành theo cách mà Thầy đã dạy, nhưng khoảng 15 phút đầu thì con chú ý sự phồng xẹp của bụng để giúp định tâm. Con vẫn còn băn khoăn là: có phải là cách hành thiền bằng cách duy trì theo dõi sự phồng xẹp của bụng là dành cho những thiền sinh sơ cơ, sau một thời gian hành thiền, khi đã đạt đến một trình độ nào đó thì mới hoàn toàn buông xả, chỉ cần nhận biết đối tượng nào đến một cách tự nhiên là đủ. Con chỉ sợ rằng mình như người mới học chơi đàn, nên khi tập đánh đàn thì phải nhìn từng phím đàn chứ không thể vừa chơi đàn vừa nhắm mắt như những nghệ sĩ giỏi được. Con kính xin Thầy minh giải cho con để con tự tin là đang hành thiền vừa đúng pháp vừa phù hợp với căn cơ trình độ của con.

Con xin cám ơn Thầy.

Tất nhiên nếu người chưa đủ khả năng "buông ra là thấy cái thấy của thiền tuệ" thì cần 4 pháp hỗ trợ như thầy đã nói (Niệm Phật, niệm bất tịnh, niệm tâm từ, niệm sự chết tùy theo căn tính của mỗi người). Tuy nhiên 4 pháp hỗ trợ này không phải là thiền tuệ mà chỉ giúp cho hành thiền tuệ dễ hơn thôi nên không làm hỏng thiền tuệ. Trái lại nếu hành thiền tuệ không đúng từ đầu thì khó mà điều chỉnh lại. Ví dụ như người đánh máy vi tính, đã đánh quen 2 ngón thì khó mà tập lại đánh 10 ngón, nên từ đầu phải tập đánh 10 ngón ngay mới được. Học đàn cũng vậy, phải học sử dụng ngón tay đúng từ đầu, đã quen sử dụng ngón tay sai sau chỉnh lại khó lắm. Ví dụ nhìn các dây đàn càng chứng tỏ đàn dây nào nhìn dây đó chứ không thể nhìn vào một dây đàn nhất định nào được.

Cái sai của nhiều người là không phân biệt được thiền định và thiền tuệ nên đã đem thiền định vào thiền tuệ mà hành, tưởng định tâm càng nhiều càng tốt! Thực ra định tâm nhiều thì hết hành thiền tuệ được. Phải dùng pháp hóa giải thiền định đó đi mới vào thiền tuệ được. Trong thiền tuệ chỉ sử dụng sát-na địnhtùy thời định mà thôi (xem Chương 8 - Sống Trong Thực Tại). Nhiều người hiểu lầm đã dùng phương pháp niệm phồng xẹp của Ngài Mahasi như đề mục thiền định, thậm chí còn đắc những ấn chứng của thiền định mà họ tưởng đã đắc tuệ! Vì vậy chỉ dừng lại ở đó không thể vào thiền tuệ được. Khi đã dùng một đề mục nhất định để thiền tức là đã rơi vào thiền định rồi.

Thiền tuệ là cái thấy trong sáng không dự định trước, đã dự định hành thiền tuệ theo cách (phương pháp) nào đó có sẵn thì không còn là thiền tuệ nữa. Buông hết mọi dự định để cho tâm rỗng rang trong sáng tự nhiên thì ngay đó bất cứ đối tượng nào cũng là đối tượng của thiền tuệ được cả. Tâm thiền tuệ phải giống như tấm gương trong sáng, đối tượng nào vào thì thấy, không vào thì thôi, chứ không đi tìm đối tượng, khác xa với thiền định là phải tìm đối tượng nhất định để chuyên chú. Vậy đừng nên hành thiền tuệ theo kiểu thiền định mà cả định lẫn tuệ đều chẳng tới đâu!

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa Thầy, trước đây con tu thiền định, sau đó con gặp một khủng hoảng đi đến bệnh trầm cảm. Nhờ thầy nhắc pháp Thất giác chi con đã phấn chấn trở lại. Sau khi hồi phục, trở lại bình thường, con thấy mọi thứ rất rõ ràng, pháp gì đến trong tâm hay ngoại cảnh đều minh bạch cái nào ra cái nấy. Con chỉ nhận biết vậy thôi, không có phản ứng gì cả, giống như người du ngoạn vậy.

Nhưng không hiểu sao sau đó con lại rơi vào trạng thái không còn phân biệt gì cả, chỉ thấy cái gì thì thấy cái đó thôi, không có ý niệm trong ngoài gì nữa, có vẻ như trơ trơ vậy, nên con muốn trở lại trạng thái như lúc mới hết bệnh. Con xin thầy chỉ cho con những trạng thái đó là trạng thái gì và con phải tu tập như thế nào cho đúng?

Khi con nhờ ứng dụng Thất giác chi mà vượt qua được cơn khủng hoảng trầm cảm do sự đối kháng giữa nội tâm muốn giữ sự ổn định và những bức xúc từ bên ngoài, thì liền trở lại bình thường, đó chính là sự trong sáng tự nhiên của tánh biết, nên con thấy trong ngoài đều rõ ràng minh bạch. Nhung sau đó yếu tố xả và định mà con tu tập trước đây lại nổi trội lên nên tâm thái trong sáng tỉnh giác tự nhiên bị yếu đi. Tuy bấy giờ con vẫn thấy nhưng không biết một cách trong sáng tự nhiên như lúc vừa hết trầm cảm. Đây là trạng thái tĩnh lặng mà những người nghiêng về thiền định cho là thanh tịnh tuyệt vời, nên họ cố gắng gìn giữ phát triển vì tưởng đã đắc được kết quả giải thoát gì đó. Nhưng đây chính là phiền não chướng vi tế của thiền tuệ. May mà con có linh tính thấy thái độ tâm lúc mới hết bệnh đúng hơn nên mới muốn trở lại trạng thái lúc đó. Tuy nhiên, khi con muốn trở lại trạng thái lúc đó là không đúng. Thực ra, con không cần trở lại trạng thái lúc đó mà chỉ cần buông cái ngã lý trí xuống thì tánh biết rỗng lặng trong sáng sẽ tự hiển hiện trở lại như lúc con mới hết bệnh ngay thôi. Tánh biết trong sáng đó luôn luôn có nhưng bị cái bản ngã lý trí, tình cảm lăng xăng hết động qua tịnh che lấp đi nên không chiếu sáng được mà thôi.

Tịnh và động vốn tùy dụng tự nhiên, nhưng người tâm quá động lại thường thích tịnh nên họ rơi vào cực này qua cực khác, như một quả lắc. Khi động thì tâm trạo cử phóng túng, khi tĩnh thì tâm thụ động tiêu cực. Nên Phật dạy định nhiều thì trầm trệ, tinh tấn nhiều lại dao động, là vậy. Để quân bình hai trạng thái này, đức Phật dạy Thất giác chi, trước hết là trở lại với chính mình (niệm) để khi tâm thụ động thì cần quan sát kỹ lưỡng (trạch pháp), tích cực (tinh tấn) và phấn khởi lên (hỷ); khi tâm dao động thì cần thư giãn (khinh an), lắng dịu xuống (định) và buông xả đi (xả). Đó là lý do vì sao khi sử dụng đúng Thất giác chi con đã thoát khỏi cơn bệnh trầm cảm, và đạt được tâm thiền tuệ chánh niệm tỉnh giác đúng mức một cách tự nhiên. Sau đó yếu tố xả và định mà con đã quen tu tập trước đây mạnh lên, nên yếu tố tỉnh giác suy giảm và con rơi vào trạng thái thấy mà không biết rõ ràng minh bạch như trên.

Thực ra thấy mà không biết cũng chẳng sao, nếu như không biết là không biết theo khái niệm (tưởng tri) hoặc theo kiến thức (thức tri) thì càng tốt, vì cái biết không biết này chính là tuệ tri. Còn nếu không biết vì tâm si hoặc vì tâm xả của thiền định trội hơn tỉnh giác thì cần phải thận trọng mới được.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa Thầy!

Xin Thầy cho con biết sự khác nhau và sự liên hệ giữa Niệm và Định trong thiền quán?

Con xin cám ơn Thầy!

Trong thiền quán giới, định, tuệ đều phải đầy đủ. Trong Bát Chánh Đạo, tinh tấn, niệm và định đều thuộc về định phần, như vậy có chánh tinh tấnchánh niệm đã là có định rồi. Định trong thiền tuệ chỉ cần sát-na địnhtùy thời định chứ không cần an chỉ định (kể cả cận định). Chánh niệm tức là không thất niệm, không tạp niệm và không vọng niệm, nghĩa là trọn vẹn với thực tại thân-thọ-tâm-pháp tại đây và bây giờ. Đó cũng chính là tùy thời định và sát-na định. Người đắc an chỉ định nếu không biết cách hóa giải định này thì sẽ không vào thiền tuệ được. Hầu hết những phiền náo của thiền tuệ đều phát xuất từ định an chỉ. Phật dạy quán niệm 16 hơi thở chính là để hóa giải thiền định chứ không phải để tu thiền định an chỉ như nhiều người tưởng lầm.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.