Thầy ơi, trước đây con nghe kinh luận nói đến Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Thiên,... thì con nghĩ đấy chỉ là mê tín vô bổ và Phật giáo đơn thuần là tôn giáo, là ảo tưởng. Nhưng đến khi con học Kiếm đạo đến chiêu Tùng phong rút kiếm ra khỏi bao để chém tắt ngọn nến, con mới bắt đầu nghĩ làm sao để giải quyết được vấn đề vừa rút kiếm nhanh gọn chính xác mà vừa thong dong tự tại.
Từ đấy con mới đi sâu vào dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm kinh điển như Kiếm kinh của Du Đại Du, Bất động trí thần diệu lục của thiền sư Trạch Am Tông Bành phái Dương Kỳ tông Lâm Tế ở Nhật Bản. Con mới nhận ra vấn đề không nằm ở kỹ thuật mà nằm ở tâm thuật, tâm thuật thông thì kỹ thuật mới thông, tâm thuật chưa thông thì càng cố gắng càng thất bại. Con ngạc nhiên khi nhận ra là tại sao một tông phái của Phật Giáo lại có quan hệ với Kiếm Đạo và là nền móng để giác ngộ, giải thoát trong Kiếm Đạo.
Khi có một chút thu hoạch trong quá trình nghiên cứu Thiền Tông thì con lại bị thu hút bởi giá trị thực tiễn của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Con lắng nghe pháp thoại của các thầy Thích Nhật Từ, Thích Nhất Hạnh,... về Bát Nhã Tâm Kinh. Cuối cùng con rất xúc động khi nghe được lời thầy dạy trong cuốn Thực Tại Hiện Tiền. Con đã thành tựu phép chém nến, đã biết thế nào là Thiền kiếm nhất như và thấy ngay giá trị thực tiễn của các khái niệm mà trước đó con vẫn mơ hồ như Kiếm bất quá đỉnh, Nhẫn bất hướng kỷ, Kiến phùng sáp châm, Tĩnh chỉ chi kiếm, Thủy trung chi nguyệt,... trong Kiếm đạo.
Con biết rằng Phật pháp có thể giải quyết được những vấn đề thực tiễn một cách đơn giản và tối ưu. Phật pháp có thể tạo ra được kết quả trong thực tiễn, Phật pháp tràn ngập khắp nơi và trong mọi hoạt động, không hiện tượng nào không phải là bài học giúp ta giác ngộ giải thoát, như sư Trích Thủy nói: "Tào khê một giọt nước thiền/ Bảy mươi năm trọn dùng liền chưa vơi/ Bao la mặt đất bầu trời/ Ngập tràn chốn chốn nơi nơi khôn cùng". Hoặc như kinh A-di-đà nói gió chim cũng thuyết pháp.
Kiếm đạo như vậy thì sinh hoạt hay làm việc cũng như vậy, tất cả đều trở nên chân thực, tươi mới và tràn đầy sức sống, những phong ba bão táp trong cuộc sống đều trở thành những thử thách thú vị trên hành trình giác ngộ, giải thoát.
Từ thực tại hiện tiền con trở lại kinh điển, thì con thấy tất cả đều có giá trị thực tiễn, chẳng qua trước đó con chưa nhận ra nên mới cho đó là mê tín. Nếu đắm chìm trong kinh điển mà không thấy thực tại thì kinh điển trở thành chướng ngại. Nhưng nếu nương theo văn tự bát-nhã và thực hành quán chiếu bát-nhã mà thấy được thực tướng bát-nhã thì kinh điển liền trở thành phương tiện hữu ích.
Lại nói về lục phàm tứ thánh, con thấy có người giảng A-tu-la, Thiên,... là người ngoài hành tinh. Nhưng đối với con, lục phàm tứ thánh trong kinh điển là sự mô tả những trạng thái khác nhau của tâm bằng bút pháp ẩn dụ nhân hóa đậm chất văn học, những trạng thái khác nhau của tâm giống như những lăng kính khác nhau mà đeo lên để nhìn nhận thế giới. Tâm sân hận đau khổ thì thế giới hiện tiền đều là Địa ngục; tâm xan tham đói khát thì thế giới hiện tiền là Ngạ quỷ; tâm tật đố phóng cuồng thì thế giới hiện tiền là A-tu-la; tâm chỉ trì ngũ giới với đủ loại niềm vui nỗi buồn thì thế giới là Nhân; tâm an vui tác trì thập thiện thì thế giới là Lục dục thiên; tâm ly dục sắc thì thế giới là Tứ thiền thiên; tâm ly sắc nhập không thì thế giới là Tứ không thiên; tâm tu theo Tứ đế mà thấy rõ sự thật là thế giới Thanh văn; tâm tự chiếu nhân duyên mà thấy rõ sự thật là thế giới Duyên giác; tâm tứ hoằng thệ nguyện và thực hành lục ba-la-mật là thế giới Bồ tát; tâm định tĩnh, trong lành, sáng suốt, không chấp trước phân biệt, khiến cho mọi hiện tượng hiện tiền đều là như thị tướng, như thị tính, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh, thì chính là thế giới Niết-bàn chân thực, tích cực, vốn viên mãn ngay tại đây và ngay bây giờ.
Những trạng thái khác nhau của tâm giống như những lăng kính có màu sắc chủ quan đậm nhạt khác nhau, màu sắc chủ quan của lăng kính càng đậm bao nhiêu thì màu sắc khách quan của thực tại càng bị lu mờ đi bấy nhiêu và ngược lại, nên tổ sư nói: "Tâm địa nhược không, Tuệ nhật tự chiếu".
Cuộc chiến giữa A-tu-la và Chư thiên rốt cuộc là sự nhân cách hóa cuộc chiến giữa tâm tật đố và tâm an vui mà bao giờ tâm an vui cũng giành chiến thắng, tâm tật đố tuy sinh ra sức mạnh chủ quan lớn lao nhưng vẫn không bằng tâm an vui sinh ra sức mạnh khách quan còn lớn lao hơn sức mạnh chủ quan. Một nhát chém được ta tung ra với tâm A-tu-la không thể hiệu quả và chính xác bằng một nhát chém được tung ra với tâm Chư thiên vì nhát chém của Chư thiên phù hợp với quy luật khách quan hơn. Và tất cả đều không bằng được một nhát chém ở trong Niết-bàn, khi mà thực tại được phản ánh một cách trung thực, chính xác nhất.
Thực tế thì những tập khí chủ quan làm sai lệch thực tại như Kinh, Cụ, Nghi, Hoặc đều là đại kỵ trong Kiếm thuật. Con thấy bút pháp ẩn dụ nhân hóa như vậy làm cho kinh luận trở thành một phương tiện giáo hóa rất sinh động, thú vị, hấp dẫn và không nhàm chán. Miễn sao mình không bị vô minh ái dục che lấp và không bao giờ xa rời thực tế thì đâu đâu cũng là giải thoát phải không thầy? Con đã hỏi thầy một vài lần và đều nhận được những lời khuyên rất hữu ích.
Con kính chúc thầy luôn mạnh khỏe, luôn chỉ dẫn chúng con vượt qua được những thử thách của cuộc sống.
Sādhu lành thay! Rất chính xác!
Trao đổi
Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.