Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

tưởng tri, thức tri & tuệ tri

74 câu · trang 1/25

Thưa Thầy, vậy là con đã được gặp Thầy. Con thấy mình thật may mắn vì con có ba câu hỏi trong đầu định đến hỏi thầy nhưng con chưa cất tiếng hỏi thì Thầy đã ân cần trả lời cả ba câu hỏi đó ngay khi lần đầu gặp Thầy ở nhà chị Trang hai tối 24 và 25/5/2011. Rồi con được ngồi nghe Thầy giảng ở chùa Linh Thông và chùa Hòe Nhai nữa.

Có lúc nghe Thầy giảng con thấy rất cảm động mặc dù từ Thầy chỉ toát ra những hành động và lời nói rất giản dị. Con chú ý thấy Thầy ho nhiều trong sáng nay và sáng qua. Con cũng chú ý thấy con tham lam muốn ngồi nghe Thầy giảng tất cả các buổi và muốn hỏi Thầy thật nhiều. Con chợt hiểu ra tham nghe Pháp cũng vẫn là tham. Vậy nên tối nay con chọn cách viết thư để lúc nào Thầy rảnh Thầy đọc những dòng này con viết để cảm ơn Thầy và xin Thầy tha thứ cho sự tham lam nghe Pháp của chúng con, đồng thời con xin Thầy hãy chú ý giữ sức khỏe. Thầy làm việc quá sức rồi.

Con xin phép được cảm ơn Thầy vì tất cả những gì Thầy đã từ bi chỉ dạy cho chúng con trong những ngày Thầy tới Hà Nội.

  1. Thầy cũng rất hoan hỷ khi nghe con nói như vậy. Điều này chứng minh rằng tánh biết có cách biết mà ý thức không biết được. Ý thức cần có đối tượng, mà phần lớn đối tượng là cái đã biết (pháp trần), nên khi con chưa đặt câu hỏi làm sao thầy biết bằng ý thức được, thế mà tâm vẫn cảm nhận được tâm theo cách riêng của nó. Tánh biết có một tầm hoạt động rộng lớn vô cùng so với những gì nhãn thức, nhĩ thức... và ý thức có thể biết được một cách hữu hạn. Đó là lý do vì sao Lão Tử nói "Tri bất tri thượng" tức là biết mà không cần ý thức mới là biết tối thượng. Trong Phật giáo, tánh biết thể hiện qua rất nhiều mức độ nhận thức khác nhau: Liễu tri, tuệ tri, thắng tri, thức tri, tưởng tri, giác tri.
  • Giác tri là cái biết mang tính bản năng sơ khởi của các giác quan tiếp xúc với đối tượng (xúc) và những cảm giác thu nhận được (thọ). Cái biết thực vật tuy rất đơn sơ nhưng cũng là dạng biết này..

  • Tưởng tri là cái biết qua ý niệm, ý tượng hay khái niệm. (Lưu ý: tưởng tượng và hồi tưởng phát xuất từ tưởng tri nhưng đã bước qua lĩnh vực thức tri).

  • Thức tri là cái biết qua kiến thức có được từ kinh nghiệm của 6 thức và từ những thông tin góp nhặt, vay mượn bên ngoài. Đây chính là hoạt động của lý trí chỉ hữu ích trong lĩnh vực tục đế (chân lý quy ước của thế gian).

  • Thắng tri là cái biết qua một trình độ tâm thức cao hơn như thiền định, thần thông... Thắng tri đôi lúc được dùng theo nghĩa tuệ tri hoặc liễu tri, khi đó là thắng tri của bậc Thánh.

  • Tuệ tri là khả năng nhận thức trực tiếp trung thực của tánh biết. Khi thận trọng, chú tâm, quan sát hoặc tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác đạt được đối tượng thực tánh pháp thì tánh biết thể hiện dưới dạng tuệ tri.

  • Liễu tri là khả năng sáng suốt, định tĩnh, trong lành tự nhiên của tánh biết không còn bị ngăn ngại bởi cái ta tư tưởng nên hoàn toàn vô ngã vô vi. Đây là tánh biết thể hiện nơi các bậc Thánh.

  1. Con phải khám phá ra sự khác biệt giữa nhu cầu học pháp với tâm tham pháp. Tham pháp là mong muốn sở hữu và tích lũy thêm số lượng kiến thức nhiều hơn, còn nhu cầu học pháp là mở rộng tầm nhìn để nhận thức sự thật đúng hơn, không bị giới hạn trong tư tưởng, quan niệm, kiến thức và kinh nghiệm hạn hẹp. Vậy nhu cầu học pháp là cần thiết chứ không phải là tham pháp.
Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính thưa Thầy, con có một thắc mắc mong Thầy chỉ dạy. Khi một vị thực chứng thấy một đóa hoa thì tánh biết sẽ như thế nào? Vì chữ HOA cũng đã là khái niệm rồi. Và màu của lá và hoa cũng vậy. Nếu câu hỏi có gì ngây ngô con mong Thầy từ bi chỉ dạy cho con. Con cám ơn Thầy.

Nếu con thấy đó là hoa, màu hồng và hình thể của nó là con thấy qua vật hay nghĩa khái niệm (attha paññatti), nếu thấy đó là hoa sen thì con thấy qua danh khái niệm (nâma paññatti). Và nếu con phản ứng tạo tác với thái độ ưa ghét thì đó là cái thấy hữu vi (sankhâta). Khi nào con thấy nó không qua 2 khái niệm trên và tâm không phản ứng tạo tác thì mới thấy thực tánh pháp (paramattha) của nó như nó là. Nói theo thuật ngữ Phật học thì thì cái thấy đầu thuộc tưởng trithức tri, cái thấy sau là tuệ tri. Nói theo ngôn ngữ triết học và khoa học hiện đại thì đó là sự trực nhận phi khái niệm tương đối và phi tác động phản ứng. Cái này thì con phải tự thực chứng mới được vì lý trí chỉ có thể hiểu được khái niệm chế định chứ không thể thâm nhập pháp thực tánh như thị.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa thầy, con chưa hiểu rõ câu trả lời cho một vị trong mục này. Đó là câu: "Có trí tuệ mới có tuệ giác", vì trước đây con tưởng hai từ này đồng nghĩa. Xin thầy hoan hỷ giải đáp. Con xin cám ơn thầy.

Mới có trí tuệ nhưng chưa đủ chín mùi để giác ngộ nên chưa gọi là tuệ giác. Tuệ tri chưa phải là liễu tri mặc dù những từ này đều cùng tính chất. Ví dụ tuệ thấy danh sắc là trí tuệ, tuệ thấy đạo quả cũng là trí tuệ nhưng lại gọi là tuệ giác. Giống như trái cam non, trái cam chín tuy cũng là trái cam nhưng tuỳ mức độ thành thục khác nhau mà gọi tên thôi.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.