Thưa Thầy, vậy là con đã được gặp Thầy. Con thấy mình thật may mắn vì con có ba câu hỏi trong đầu định đến hỏi thầy nhưng con chưa cất tiếng hỏi thì Thầy đã ân cần trả lời cả ba câu hỏi đó ngay khi lần đầu gặp Thầy ở nhà chị Trang hai tối 24 và 25/5/2011. Rồi con được ngồi nghe Thầy giảng ở chùa Linh Thông và chùa Hòe Nhai nữa.
Có lúc nghe Thầy giảng con thấy rất cảm động mặc dù từ Thầy chỉ toát ra những hành động và lời nói rất giản dị. Con chú ý thấy Thầy ho nhiều trong sáng nay và sáng qua. Con cũng chú ý thấy con tham lam muốn ngồi nghe Thầy giảng tất cả các buổi và muốn hỏi Thầy thật nhiều. Con chợt hiểu ra tham nghe Pháp cũng vẫn là tham. Vậy nên tối nay con chọn cách viết thư để lúc nào Thầy rảnh Thầy đọc những dòng này con viết để cảm ơn Thầy và xin Thầy tha thứ cho sự tham lam nghe Pháp của chúng con, đồng thời con xin Thầy hãy chú ý giữ sức khỏe. Thầy làm việc quá sức rồi.
Con xin phép được cảm ơn Thầy vì tất cả những gì Thầy đã từ bi chỉ dạy cho chúng con trong những ngày Thầy tới Hà Nội.
- Thầy cũng rất hoan hỷ khi nghe con nói như vậy. Điều này chứng minh rằng tánh biết có cách biết mà ý thức không biết được. Ý thức cần có đối tượng, mà phần lớn đối tượng là cái đã biết (pháp trần), nên khi con chưa đặt câu hỏi làm sao thầy biết bằng ý thức được, thế mà tâm vẫn cảm nhận được tâm theo cách riêng của nó. Tánh biết có một tầm hoạt động rộng lớn vô cùng so với những gì nhãn thức, nhĩ thức... và ý thức có thể biết được một cách hữu hạn. Đó là lý do vì sao Lão Tử nói "Tri bất tri thượng" tức là biết mà không cần ý thức mới là biết tối thượng. Trong Phật giáo, tánh biết thể hiện qua rất nhiều mức độ nhận thức khác nhau: Liễu tri, tuệ tri, thắng tri, thức tri, tưởng tri, giác tri.
Giác tri là cái biết mang tính bản năng sơ khởi của các giác quan tiếp xúc với đối tượng (xúc) và những cảm giác thu nhận được (thọ). Cái biết thực vật tuy rất đơn sơ nhưng cũng là dạng biết này..
Tưởng tri là cái biết qua ý niệm, ý tượng hay khái niệm. (Lưu ý: tưởng tượng và hồi tưởng phát xuất từ tưởng tri nhưng đã bước qua lĩnh vực thức tri).
Thức tri là cái biết qua kiến thức có được từ kinh nghiệm của 6 thức và từ những thông tin góp nhặt, vay mượn bên ngoài. Đây chính là hoạt động của lý trí chỉ hữu ích trong lĩnh vực tục đế (chân lý quy ước của thế gian).
Thắng tri là cái biết qua một trình độ tâm thức cao hơn như thiền định, thần thông... Thắng tri đôi lúc được dùng theo nghĩa tuệ tri hoặc liễu tri, khi đó là thắng tri của bậc Thánh.
Tuệ tri là khả năng nhận thức trực tiếp trung thực của tánh biết. Khi thận trọng, chú tâm, quan sát hoặc tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác đạt được đối tượng thực tánh pháp thì tánh biết thể hiện dưới dạng tuệ tri.
Liễu tri là khả năng sáng suốt, định tĩnh, trong lành tự nhiên của tánh biết không còn bị ngăn ngại bởi cái ta tư tưởng nên hoàn toàn vô ngã vô vi. Đây là tánh biết thể hiện nơi các bậc Thánh.
- Con phải khám phá ra sự khác biệt giữa nhu cầu học pháp với tâm tham pháp. Tham pháp là mong muốn sở hữu và tích lũy thêm số lượng kiến thức nhiều hơn, còn nhu cầu học pháp là mở rộng tầm nhìn để nhận thức sự thật đúng hơn, không bị giới hạn trong tư tưởng, quan niệm, kiến thức và kinh nghiệm hạn hẹp. Vậy nhu cầu học pháp là cần thiết chứ không phải là tham pháp.
Trao đổi
Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.