Thưa Thầy kính mến, con rất mừng vì sáng nay mở máy tính đã thấy Thầy trả lời câu hỏi cho con. Qua đó con thấy Thầy động viên con nên hỏi Thầy. Vì thế con xin phép chép lại đoạn văn mà con lúng túng khi đọc lên đây:
"Tuy nhiên, có một điều rất nguy hiểm dễ đưa đến nhầm lẫn giữa cái không tên nhưng có khái niệm và cái không tên vượt ngoài khái niệm. Chính vì điều này mà trong văn học Abhidhamma, Đức Phật đã phân tích “cái tên không tên” một cách rõ ràng hơn Lão Tử Đạo Đức Kinh nhiều. Có hai cái không tên:
a) Cái không tên nhưng có khái niệm gọi là nghĩa khái niệm hay vật khái niệm (attha pannatti), nghĩa là tưởng chỉ nắm bắt đối tượng qua ý tượng (hình ảnh) hay ý niệm (ý nghĩa) chứ không thâm nhập được bản thể chân như (yathàtathatà) hay tự tánh (sabhàva) của pháp. Nói gọn là chỉ thấy tướng không thấy tánh. Hay chỉ thấy ngoại diện mà không thấy toàn diện.
Ngoại diện đại khái gồm có:
Khái niệm về hình dáng (santhàna) như núi cao, sông dài, đất rộng, mây trắng, nước trong v.v…
Khái niệm về tổng hợp (samùha) như xe, nhà, làng, bức tranh, pho tượng v.v.. phải tập hợp nhiều yếu tố mà thành chứ không thể tự nhiên có.
Khái niệm về phương hướng (disà) như Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, trong, ngoài v.v...
Khái niệm về thời gian (kàla) như sáng, trưa, chiều, tối, xuân, hạ, thu, đông v.v...
Khái niệm về khoảng không (àkàsa) như hư không, lỗ trống, kẽ hở giữa các sắc tứ đại v.v...
Khái niệm về đề mục thiền (Kasina) như đất, nưốc, lủa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng v.v...
Khái niệm về thiền tướng (nimitta) như những hình ảnh thô tướng, tợ tướng, quang tướng v.v... trong thiền định.
b) Cái không tên không khái niệm tạm gọi là chân đế hay đệ nhất nghĩa đế (paramattha sacca), chính cái thực tánh này Lão Tử cũng nói không có tên nhưng tạm gọi là Đạo (Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo). Đó là thế giới bản nguyên, tự nhiên, của thiên địa vạn vật mà Đạo Phật gọi là tự tánh pháp (paramattha dhammà).
Trong danh chỉ định nếu ta bỏ cái danh đi mà chỉ thấy cái được chỉ định thì có hai trường hợp:
Trong trường hợp thấy bằng tưởng tri (sanjànàti) hay thức tri (vijànàti) chỉ thấy được vật khái niệm hay nghĩa khái niệm mà thôi (thấy ngoại diện và phiến diện)
Trường hợp thấy bằng tuệ tri (pajànàti) thì mới thấy được thế giới đệ nhất nghĩa đế hay bản nguyên chân thực của Đạo (thấy toàn diện)
Con lúng túng vì không chắc mình hiểu hết ý Thầy cảnh báo. Và con cũng lúng túng khi liên hệ với việc thực hành trong thấy chỉ có thấy, khi thực hành con nên thấy như thế nào để có thể biết được là đang thấy như mục a hay thấy như mục b trong đoạn văn trên. Ví dụ khi con đang suy nghĩ con thấy đầu tiên là đang suy nghĩ rồi tiếp tới con thấy cả trán đang nhăn, hơi thở không đều, tay chân không tự nhiên... vậy có phải cái thấy đầu tiên là thấy qua khái niệm "suy nghĩ" tức là vẫn ở cảnh báo trong mục (a) phải không ạ, thưa Thầy? Kính mong Thầy chỉ dạy cho con. Con cảm ơn Thầy.
Người ta thường nói thấy "như thị" tức thấy "cái đang là" vô ngôn, nhưng thực ra người ta không biết rằng có thể nhầm lẫn giữa đối tượng thực tánh đang là vô ngôn vô tướng (what is being) với cái khái niệm tuy vô ngôn nhưng hữu tướng (that is being) về đối tượng ấy. Thí dụ khi con thấy "tâm sân", nếu con cảm nhận nó như nó là với tánh biết hoàn toàn rỗng lặng trong sáng như tấm gương phản ánh sự vật trung thực thì đó là thấy thực tánh vô ngôn vô tướng với tuệ tri (yathābhūtā ñānadassana). Nhưng nếu con định dạng nó qua khái niệm "tâm sân" mà con đã có kinh nghiệm trước đây, hoặc con học được qua kiến thức thì dù con chưa gọi tên nó đây là "tâm sân" tức tuy vô ngôn nhưng đã hữu tướng vì vẫn chỉ là thấy tướng khái niệm của lý trí với tưởng tri hoặc thức tri (atthapaññatti viññāna) mà thôi.
Thầy chú thích thêm một chút là thức tri cũng có hai loại: Một là thức tri qua 5 thức giác quan ban đầu và qua ý giới (hoạt động của tâm vô nhân) chứ chưa qua ý thức (hoạt động của tâm hữu nhân) thì đối tượng vẫn là thực tánh vô ngôn vô tướng. Hai là thức tri qua kiến thức và kinh nghiệm của ý thức hữu nhân tức qua khái niệm và quan niệm đã định sẵn hay hình thành từ trước thì đối tượng được thấy là tướng khái niệm chế định nên dù là vô ngôn vẫn hữu tướng. Chắc là con phân vân vì ngôn từ thôi. Không sao, nếu con cứ tiếp tục quan sát một cách tự nhiên thì rồi con sẽ thấy ra và sẽ không còn bị chướng ngại bởi ngôn ngữ diễn đạt nữa. Đó cũng là lý do vì sao Thiền Tông không muốn dùng ngôn từ để diễn đạt mà chỉ thẳng được chừng nào hay chừng đó.
Trao đổi
Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.