Kính Bạch Hòa Thượng.
Con vô cùng vinh hạnh và vui mừng khi được Ngài cho con gọi Ngài bang Thầy, mà từ lâu con hằng ao ước.
Thầy biết không, may mắn thay con biết được Đạo Phật từ rất sớm vào lúc con chỉ mới khoãng 12 hoặc 13 tuổi. Lúc còn rất nhỏ, khi có dung cụ gì: bút chì, nhánh cây hoặc viên phấn con hay vẽ hình tượng Phật nhưng theo mô hình vẽ Phật Nguyên Thủy. Lúc đó con hay theo các bạn vào làm công quả ở Chùa.
Một ngày kia khi dang ở chùa công quả, vào một buổi chiều trời mưa tầm tã, không biết làm gì con bắt chước ngồi thiền (thực ra không ai chỉ dạy cho con cả) nhưng lạ lùng thay con có cảm giác hỷ lạc vô cùng. Từ đó trong tâm con ước ao được đi tu, nhưng Cha Mẹ con không cho, duy chỉ có Bà Ngoại con là ưng thuận và rồi con quyết chí xuất gia, lúc ấy ngay cả bộ đồ tu sĩ con cũng không có, chỉ được Bà Ngoại con cho con một áo nâu mà Bà để dành dưỡng già. Thế là con được làm Tu sĩ lúc đó con được 14 tuổi.
Người Thầy đầu tiên của con lúc đó là một Tu sĩ nhưng Ngài lại có phần âm theo dựa, Ngài không biết chữ. Sau một năm con được thọ giới Sa di, lúc đó con xem quyễn Qui Sơn Cảnh sách quyết học và thực hành theo các oai nghi trong đó, nhưng Ngài không ưng ý lắm, tính cách của Ngài lúc đó thất thường hay đánh, chửi huynh đệ các con. Khi hay tin đó, Mẫu Thân con khuyên con nên xin đi nơi khác tu.
Cũng từ đó con bắt đầu chuyến hành trình tìm Thầy học Đạo, con lên núi Trà Sư vùng Châu Đốc, Biên hòa rồi Saigòn, nhưng có lẽ duyên Sư đồ chưa đến, lòng con rất muốn tu. Khi ấy con có nhờ người Chú xin vào Phật học viện Huệ Nghiêm nhưng không được. Suốt gần mười năm trong cuộc đời Tu sĩ con không tìm được người Thầy hướng dẫn việc tu học, lúc đó con chỉ biết nương tựa những hiểu biết của mình để tự tu thôi.
Đến năm 1977 con mới hoàn tục và sau đó hai năm con lập gia đình, kỳ lạ thay những năm sống trong cuộc sống gia duyên ràng buộc, con vẫn không bỏ ý niệm tu. Lại tham cứu sách vở, tìm hướng thực hành, tự mày mò tìm đường hướng thượng. May mắn khi nầy con được cuộc sống cũng không khó khăn, nên có điều kiện nghiên cứu, thực hành cũng với Kinh sách, những bài Pháp thoại của các Hoa Thượng trên băng, đĩa, tự nhiên con lại ngộ ra rất nhiều điều. Đôi khi con nghĩ nếu khi xưa có sự hiểu biết như thế nầy thì con không hoàn tục. Tuy nhiên như thế thực ra con như người chưa có căn bản trong Pháp hành. Nay Thầy chấp nhận con là đệ tử có lẽ Thầy sẽ rất mệt mỏi vì con đấy, nhưng kính mong Thầy đừng bỏ con. Đôi lời con xin tâm sự với Thầy, nếu dài dòng, lưộm thưộm mong Thầy hoan hỷ cho con. Kính chúc Thầy thân tâm luôn an lạc.
Xuất gia được hay không cũng còn tùy duyên phận, không phải ai muốn xuất gia cũng được, và không phải ai xuất gia được cũng đều thành công trên đường giác ngộ, nhiều người sống đời sống xuất gia nhưng còn tệ hơn sống đời cư sĩ tại gia. Như vậy xuất gia phải đủ duyên, hay "hợp cách" nói theo ngôn ngữ Tử Vi, thì mới tốt. Đủ duyên không có nghĩa là có hoàn cảnh tốt, mà có khả năng vượt qua hoàn cảnh.
Việc xuất gia và việc tu học tưởng chừng như là một nhưng đó là hai việc khác nhau. Có thể có 4 trường hợp: Xuất gia mà biết tu học tốt, xuất gia nhưng không biết tu học, tại gia lại biết tu học tốt, tại gia mà không biết tu học. Tu học cũng còn tùy duyên và căn cơ trình độ, có khi cố gắng tu học nhưng lại sai đường lạc lối nên càng tinh tấn càng sai, trong khi người có túc duyên nghe xong liền ngộ.
Khi con có tâm nguyện tu học chân thành thì thế nào cũng gặp thầy gặp đạo. Vì dù xuất gia hay tại gia, thì thân, thọ, tâm, pháp vẫn là căn bản đời sống và đó cũng chính là đối tượng tu học của Tánh Biết vốn sẵn có nơi mỗi người mà đức Phật gọi là Nội Tâm Trong Sáng (Pabhassara Citta). Biết ứng dụng nội tâm trong sáng để thấy biết thân-tâm-cảnh thì chính là tu là học ngay trên pháp tánh tự nhiên. Không biết ngay đó mà tu học thì tìm Đông tìm Tây không nơi nào thấy Đạo.
Trao đổi
Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.