Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

hữu thức & ý thức, tiềm thức, vô thức & Bhavaṅga

51 câu · trang 1/17

Kính thưa Thầy.

Từ trước đến giờ con vẫn thường nghe thầy hoặc nhiều Tăng Ni khác nhắc đến 6 căn tiếp xúc với 6 trần, thí dụ như mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh..., nhưng con chỉ hiểu vậy thôi. Chỉ mấy hôm nay con mới thực sự biết được bản năng của mắt là để nhìn, cũng như bản năng của bao tử là để tiêu hóa thức ăn và bản năng

của lý trí là để so sánh, lý luận, kết luận... Chuyện rất đơn giản và dễ dàng như vậy nên con nghĩ là con đã hiểu biết từ lâu, nhưng hóa ra con chẳng biết gì cả! Câu hỏi của con là làm sao thầy giải thích được sự việc mình tưởng là mình đã biết nhưng thật ra mình chẳng biết gì; và có khi mình không biết nhưng mình lại có thể biết?

Câu hỏi thứ hai của con là, sau khi hiểu được chức năng của 6 căn khi tiếp xúc với 6 trần rồi thì có phải mình lắng nghe và học hỏi từ chúng để không bị chúng điều khiển hoặc có thể sử dụng được chúng mà không bị dính mắc? Con đang hiểu biết mù mờ. Xin thầy khai thị cho con hiểu thêm. Thành kính tri ân thầy. chúc thầy sức khỏe thật tốt để dìu dắt chúng con.

Những hoạt động như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, và thân xúc (bao gồm sự vận hành theo chức năng và bản năng tự nhiên bẩm sinh của các cơ quan nội tạng như bộ phận tiêu hóa, tuần hoàn, tinh lọc, bài tiết, hô hấp, não bộ, hệ thống gân cơ và thần kinh v.v…) đều diễn ra một cách vô ngã và phần lớn là vô thức, vì dù chúng ta có ý thức được chúng hay không thì chúng vẫn tự hoạt động theo cách riêng của chúng. Đó là toàn bộ hoạt động của sự sống. Con người thường bỏ quên những hoạt động tự động này vì chúng thuộc hệ quả “vô nhân” trong chuỗi nhân quả của đời sống.

Theo Vi Diệu Pháp, Ý có hai loại: ý giới là một một loại hoạt động hậu vô thức nhưng tiền ý thức mà Duy Thức gọi là mạt-na thức thứ 7 và ý thức giới mà Duy Thức gọi là Ý thức thứ 6. Ý giới bao gồm những hoạt động bản năng giữa vô thức và hữu thức, giữ chức năng tiếp thu, so lường, xác định đối tượng mà các thức giác quan nhận được qua thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm một cách máy móc, chưa ý thức rõ rệt. Đó là giai đoạn máy móc “biết mà không biết” của ý giới.

Ý thức cũng có nhiều chức năng khác nhau: Đầu tiên là chức năng ý thức tiếp trợ để xử lý thông tin của tiến trình nhận thức sơ bộ từ các thức giác quan. Trong giai đoạn này tưởng hoạt động tạo ra khái niệm rồi dựa trên những khái niệm đó để nhận biết, nên cái biết này chỉ là giai đoạn tưởng tri. Tiếp theo là ý thức thuần túy làm việc với đối tượng pháp trần nội tại mà ý thức tiếp trợ đã xử lý lúc đầu. Ý thức lúc này nhận biết đối tượng theo thức tri nghĩa là thu nhận kiến thức, kinh nghiệm, tư duy, lý luận, phê phán, quyết định hướng phản ứng hay giải quyết vấn đề. Đến đây ý thức hình thành tư tưởng, quan niệm và khuynh hướng thiện ác cũng bắt đầu xuất hiện. Đây là giai đoạn hữu ý “biết mà có biết” của ý thức qua kiến thức, kinh nghiệm v.v... Cuối cùng là chức năng ý thức trong sáng phản ánh trung thực và trực tiếp đối tượng, không qua tưởng tri, thức tri mà qua trí tuệ thấy biết thực tánh pháp, nên gọi là tuệ tri. Đây là giai đoạn trở về bản chất gốc của tánh biết trong sáng hoàn toàn vô ngã: “biết rất rõ mà dường như không biết” gì cả.

Để có thể dụng được ý thức trong sáng này trong đời sống hàng ngày thì con phải thường (tinh tấn) trở về trọn vẹn với chính mình (chánh niệm) và buông hết mọi ý đồ của bản ngã để tâm (tánh biết) trong sáng hồn nhiên (tỉnh giác). Lúc đó, hễ vô sự thì tâm tự sáng suốt, định tĩnh, trong lành; hễ hữu sự thì tâm tự ứng ra thận trọng, chú tâm, quan sát để tùy nghi tiếp xử đối tượng. Đó chính là lúc lục căn thanh tịnh vậy

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa thầy, con xin được hỏi, trong một vài chia sẻ hỏi đáp gần đây con có thấy thầy có nói tới một vài chỗ như đi sâu vào vấn đề tiềm thức hay vô thức. Theo con hiểu tiềm thức hay vô thức là những thứ nằm bên dưới thúc đẩy dẫn dắt chúng ta hành xử theo điều đó, nó có thể là các cảm nhận, nhận thức, hiểu biết, muốn hay không muốn một điều gì đó và thường chúng ta biết rất ít về hoạt động của nó.

Và tiềm thức hay vô thức chỉ có thể thấy được phần nào thông qua việc quan sát học hỏi từ các cảm xúc tư tưởng hay qua những ứng xử, hành động của chúng ta trong cuộc sống.

Con hiểu về tiềm thức và vô thức là như vậy. Con cũng đọc được một ít sách có nói về điều này nhưng chưa thấy giải đáp nào cặn kẽ. Con mong được thầy chỉ bảo về điều này. Con xin cảm ơn thầy.

Theo Vi Diệu Pháp, tâm thường ở dưới 4 tình trạng khác nhau: 1) Tâm dưới dạng tri giác của 5 giác quan, tương đương Tiền ngũ thức trong Luận Duy Thức. 2) Tâm dưới dạng ý giới tương đương với Mạt-na thức trong Luận Duy Thức. 3) Tâm duới dạng ý thức, cùng tên gọi trong Luận Duy Thức. 4) Tâm dưới dạng tiềm thức gọi là bhavanga (hữu phần) tương đương với A-lại-da thức trong Luận Duy Thức.

Trong 4 dạng tâm thức nói trên chỉ có ý thức là không phải vô thức, ba dạng còn lại được xem như tiềm thức hoặc vô thức nếu không có ý thức hỗ trợ. Năm thức giác quan tuy gọi là thức nhưng là cái biết vô nhân gần như không biết vì chưa có ý thức, thuộc tri giác máy móc được gọi là trực giác giác quan. Các tâm ý giới cũng vậy, chỉ nhận định một cách tự động, và máy móc (vô nhân), hai dạng tâm thức vừa rồi có thể xem là tiền ý thức chứ chưa phải là ý thức. Hữu phần mới thật sự là vô thức hiểu theo nghĩa không có ý thức, hay không ý thức được.

Vô thức có hai nghĩa: 1) Không cần ý thức, bao gồm những hoạt động tự vận hành một cách máy móc dù không ý thức vẫn tiến hành được. 2) Không có ý thức, như khi làm một việc gì mà không tự ý thức được. Tóm lại, có những hoạt động cần ý thức thì phải ý thức rõ ràng, nhưng có những hoạt động không cần ý thức thì nên để pháp tự vận hành không nên xen ý thức vào quá nhiều, nhất là những hoạt động ý thức chủ quan.

Chánh niệm tỉnh giác chính là cách tốt nhất để hữu thức hóa vô thức, mà môn Phân Tâm Học của Sigmund Freud muốn nói đến. Chánh Niệm tỉnh giác giúp chúng ta phát hiện ra những hoạt động thúc đẩy từ vô thức mà Phật giáo gọi là những phiền não ngủ ngầm (Anusaya kilesa), và Phân Tâm học gọi là những khuynh hướng xung động (impulsive tendency). Khi chánh niệm tỉnh giác đã thấy ra toàn bộ khuynh hướng xung động này thì toàn bộ khối vô thức trong Bhavanga đã bị hữu thức hóa và những hoạt động vô thức hữu ích và tự nhiên sẽ tồn tại, còn những hoạt động vô thức dưới dạng phiền não ngủ ngầm đều bị chuyển hóa hay vô hiệu hóa.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính bạch sư. Con hành pháp buông xả từ khi sư qua Úc giảng bài pháp Tứ Diệu Đế đến nay. Con thấy con thật may mắn được gặp Chánh Pháp của Đức Bổn Sư cũng như con được khai mở diệu pháp từ sự giảng dạy của sư. Và mới đây nhất con được nghe thêm bài giảng Tứ Diệu Đế ở Tổ đình Bửu Long mà con download từ trên website xuống. Không có gì bằng là vừa hành vừa có thể hỏi thầy nên con xin sư chỉ dạy thêm cho con xem con đang thực tập có sai hay không.

Sự buông xả thật là vi diệu, con thấy các pháp như nó đang là. Hiện con quan sát nhiều hơn những ý niệm trong tâm vì những ý niệm này làm cho con bận rộn hơn hết. Con quan sát tự nhiên khi ý niệm sanh đến lúc diệt thật là thân thương chứ không còn là kẻ thù như trước đây nữa. Con thấy con hoan hỷ trầm tĩnh hơn xưa, thong dong và dễ dàng thấy các pháp như nó đang là, hoan hỷ biết rằng đây là chánh pháp.

Con phải chánh tinh tấn mà hành vì thấy nghiệp quá khứ làm cho con lúc tỉnh thức quan sát, lúc quên một hồi rồi mới nhớ quán tâm. Kính xin sư chỉ dạy thêm cho con về pháp quán tâm và giải thích thêm về vô thức, con chưa hiểu rõ. Con chỉ hiểu vô thức tức là không ý thức, vì diệt vọng tưởng bằng cách đè bẹp không quan sát tự nhiên như nó đang là nên vô thức cứ xuất hiện trong vô minh. Nếu vô thức xuất hiện mà quan sát bình đẳng trong sự tỉnh giác không quên thì những gì xảy ra trong vô thức là pháp đang vận hành có đúng không ạ? Con xin cám ơn sư.

  1. Con thực hành như vậy là đúng rồi. Chỉ cần nhớ rằng quan trọng không phải là đối tượng nào mà là chánh niệm tỉnh giác. Nhưng chánh niệm tỉnh giác không phải là cố gắng nắm bắt đối tượng thân, thọ, tâm hay pháp, mà chỉ cần buông cái ngã lăng xăng muốn biết muốn được đi thì tâm liền rỗng lặng trong sáng, đó mới chính là chánh niệm tỉnh giác thật sự. Đừng chỉ quan sát đối tượng tâm mà là sáng suốt, định tĩnh, trong lành đối với bất cứ đối tượng nào đang diễn ra nổi bật nhất. Ví dụ khi đi thấy đi, khi thọ lạc thấy thọ lạc, khi tâm sân thấy tâm sân... và nếu thấy được sự vận hành tương quan sinh diệt của thân - thọ - tâm thì càng tốt, đó chính là niệm pháp. Vì khi chỉ chú trọng đến một đối tượng chọn lựa, như tâm chẳng hạn, thì phải cố gắng nắm bắt đối tượng đó nên mới thấy có lúc nắm bắt được có lúc không, và có cảm giác bị thất niệm. Nếu tất cả đối tượng trong ngoài xuất hiện trong tánh biết liền biết thì sẽ không có chỗ để quên. Nếu đã thấy biết một cách tự nhiên bình đẳng thì khi quên thấy quên thôi tức là đã nhớ rồi chứ đừng cố gắng nhớ. Cố gắng nhớ thì sẽ không còn là buông nữa.

  2. Con xem lại một trong những câu trả lời gần đây nói về vô thức, thầy đã giải thích rõ ràng rồi. Con nói đúng, chỉ cần tánh biết thường soi chiếu thì tự nhiên thấy rõ hoạt động của thân - thọ - tâm - pháp tức là đang "hữu thức hóa vô thức". Vì vô thức thường xuất hiện qua những hoạt động trên 4 lãnh vực thân, thọ, tâm, pháp nên đức Phật dạy chỉ cần thường thận trọng, chú tâm, quan sát chúng khi chúng xuất hiện một cách tự nhiên thì sẽ không gia thêm vô thức vào vô thức nữa, ngược lại đó là cách duy nhất để chuyển hóa vô thức, hay nói cách khác là đưa vô thức ra ánh sáng.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.