Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

Ngôn từ & vô ngôn

23 câu · trang 1/8

Thưa Thầy,

Con mới đọc câu hỏi về các thuật ngữ dịch ra tiếng Anh. Con xin góp ý như sau:

Phật giáo đã gây chú ý ở các nước Âu Mỹ. Gần đây nhất là Phật giáo Tây Tạng. Xa hơn 1 chút thì Thiền Zen và thiền Vipassanà. Những thuật ngữ Phật học được dịch ra tiếng Anh cũng đã ít nhiều gây ra những ấn tượng không chính xác trong đầu các độc giả. Khi nghe đến từ "mindfullness" chẳng hạn, tùy theo hành trang kiến thức của mỗi người mà họ sẽ liên tưởng khác, hiểu nghĩa khác nhau.

Nếu muốn dịch sách Thầy, có lẽ chúng ta nên giữ từ Pali rồi định nghĩa như Thầy đã ví dụ, mỗi khi gặp "Tinh tấn, Chánh niệm, Tỉnh giác". Sẽ vừa ngắn hơn và ít bị nhiễm bởi những quan niệm cá nhân của độc giả hơn.

Có lẽ vì thế mà để tránh những hiểu lầm do liên tưởng của kiến thức cá nhân, Krishnamurti đã phải nói nghĩa ra nhiều hơn là cô đọng lại trong những thuật ngữ chuyên môn như Kinh điển Trung Hoa thường làm. Giải nghĩa ra như Thầy trả lời câu hỏi sẽ giúp các độc giả khỏi đoán, khỏi tra tự điển mà nghĩa tự hiển lộ ra trước mắt, muốn hiểu khác cũng khó. "Giản dị mới uyên thâm" là vậy.

Xin góp ý với các bạn như vậy. Con chào Thầy.

Cám ơn con! Không những điều đó cần yếu cho cách dịch thuật ngữ thiền Vipassanà ra ngoại ngữ mà cần cho cả dịch ra tiếng Việt. Có lẽ nên để nguyên từ Pali rồi định nghĩa tốt hơn là dịch ra một từ tiếng Việt không chính xác.

Ví dụ từ chánh niệm (satimà) thường được dịch một cách sai lầm là ghi nhận. Sati đôi lúc được dùng với nghĩa là sự ghi nhớ hay hoài niệm nhưng không phải trong ngữ cảnh của thiền Vipassanà. Trong Minh sát tuệ, nhớ ở đây có nghĩa là không bỏ quên thực tại thân-thọ-tâm-pháp chứ không cần ghi nhận hay ghi nhớ điều gì cả.

Tinh tấn (àtàpì) còn bị hiểu lầm trầm trọng hơn nữa khi dịch là nỗ lực với nghĩa cố gắng dụng công miên mật để đạt thành hay nắm bắt được một đối tượng nào đó! Trong khi tinh tấn ở đây chỉ có nghĩa là không buông lung phóng đật. Thực ra buông lung phóng dật thì mới cần tới nỗ lực để đạt được sở cầu, còn tinh tấn chính là buông nỗ lực ấy đi để trở về với thực tại mà tuyệt không có một thái độ lấy, bỏ, nương tựa, hay bám víu bất cứ điều gì. Vậy tinh tấn là không cố gắng dụng công để đạt thành theo ý chí của bản ngã.

Tỉnh giác (sampajàna) lại bị nhầm lẫn với lý trí khôn ngoan tìm biết chi tiết của đối tượng, trong khi Phật dạy là thấy biết mà không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng theo pháp chế định (paññatti) của bất kỳ pháp nào thì mới có thể trực nhận thực tánh pháp (sabhàva) một cách toàn diện như nó đang là. Vậy tỉnh giác là thấy biết trong sáng trực tiếp và trung thực tất cả các pháp mà không qua khái niệm của lý trí phân tích biện giải.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính thưa thầy!

Quan sát tâm, con thấy khi có một ý nghĩ khởi lên thì đều có ngôn từ kèm theo. Vậy vai trò của ngôn từ như thế nào trong việc tạo ra khái niệm và bản ngã. Mong thầy giải thích giùm con. Con chúc thầy nhiều sức khỏe. Con xin cảm ơn.

Con đã thấy rồi thì còn giải thích gì nữa? Quan sát, khám phá, phát hiện ra sự hình thành khái niệm mới thú vị chứ giải thích thì chỉ là thông tin đáp ứng sự tò mò của lý trí mà thôi. Tư duy và ngôn ngữ đi đôi với nhau. Có hai cách tư duy, một là tư duy qua hình tượng hai là tư duy qua ngôn ngữ. Cả hai đều tạo thành khái niệm. Hình tượng thì tạo vật khái niệm (attha paññatti), ngôn ngữ thì tạo danh khái niệm (Nāma paññatti). Vì vậy có chánh tư duy thì cũng có chánh ngữ, tà tư duy thì cũng có tà ngữ đi theo. Nếu một người đầu óc không lặng yên - không "tùy cảm nhi ứng tùy ngộ nhi an" được - mà lúc nào cũng đầy ắp hình tượng và ngôn ngữ thì coi như tâm thần đang có vấn đề.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Dạ thưa thầy, đọc câu hỏi một bạn gửi ngày 6/12/2013, hỏi về "Thọ Tưởng hành thức, thập nhị nhân duyên, danh sắc..." con thấy bạn này sao giống mình trước đây quá! Trước đây con cũng rất đau khổ khi tìm hiểu về ý nghĩa của những khái niệm này và những khái niệm đại loại như thế! Rồi tự cho mình một cách hiểu và thấy cái này sao mâu thuẫn với cái kia... rối rắm, buồn chán vô cùng! Con nghĩ sao người ta không xuất bản một từ điển Phật học để người học dễ dàng tra cứu khái niệm! Con cho rằng phải tìm hiểu hết, giải thích hết được thì mới siêu việt, mới đạt được trí tuệ! Nhưng bây giờ con đã biết đó chính là "cái ta lý trí"! Cái bản ngã tham lam muốn giải thích, muốn thỏa mãn trí tò mò! "Làm chủ" được "cái ta lý trí" này thì sẽ rất hạnh phúc vì không còn bị nó dẫn dắt nữa, khi cần thì có nó, lúc trở về nó tự dẹp qua một bên!

Về từ điển Phật học, con nghĩ sẽ chẳng có được, vì không thể chính xác ý muốn nói trong từng trường hợp! Ngôn từ làm phương tiện thật là khó! Ví như từ "Pháp", bản thân nó đã có quá nhiều khái niệm làm rối người muốn tìm hiểu, khi không hiểu ý đồ người truyền đạt!

Con nghĩ Đức Thế Tôn phân tích ra "Thọ, tưởng, hành, thức, danh sắc..." trong các kinh như bạn trên đã nêu là để dạy cho một vài đệ tử đã đủ "Hậu đắc trí"! Còn nếu mình cố mà giải thích bằng "lý trí" thì chỉ thêm "sở tri"! Có thể qua trải nghiệm, một lúc nào đó mình sẽ tự nhiên ngộ ra rõ ràng những điều này!

Con nhớ trước đây con có đọc một câu chuyện đại ý là: Một người khăng khăng đòi Phật phải giải thích sự hình thành của vũ trụ, nếu không thì ông ta không theo tu với Phật nữa. Phật nói chỉ giúp cho ông ta thoát khổ, ông ta muốn biết điều đó để làm gì, và những gì Phật đã dạy so với cái biết của Người thì như một nắm lá với rừng xanh! Hồi đó con chỉ nghĩ Phật trả lời như thế là khôn khéo! Bây giờ con đã hiểu một cách mới mẻ và biết ơn!

Cảm ơn Thầy nghe con tâm sự. Có gì không đúng mong Thầy chỉ dạy. Con chúc Thầy luôn mạnh khỏe!

Con nói đúng lắm. Một thời thầy cũng say mê nghiên cứu "pháp học" trong kinh sách như thế, về sau thầy mới hiểu ra pháp học không phải là học hệ thống kinh luận mà là học từ pháp đang diễn ra nơi thực tại thân-tâm-cảnh hiện tiền, có như thế pháp học với pháp hành mới không tách rời nhau được. Còn đem cái gọi là "pháp học" trong ngôn ngữ kinh sách ra mà áp dụng rồi tự cho đó là "pháp hành" thì thật ra chỉ lấy kiến thức chủ quan ra để thực hiện ý đồ của mình thôi, mà cứ tưởng đó là lời Phật, lời Thánh Hiền!

Bahiya chưa từng biết một lời Phật dạy nào trước khi đến hỏi ngớ ngẩn về Alahán là gì, thế mà chỉ nghe một lời Phật dạy liền thấy pháp thực tại hiện tiềnchứng ngộ Alahán. Ngài Ananda là một kho kinh điển sống nhưng hành mãi vẫn không chứng được Alahán, thế mà ngay khi buông hết không còn một pháp học nào để áp dụng, thì vừa nằm xuống liền thấy pháp thực tại hiện tiền và chứng quả Alahán. Bahiya không biết gì lại được Đức Phật tuyên bố là bậc chứng Alahán nhanh nhất, trong khi Ananda lại chứng đạo quả chậm nhất. Đó là điều chúng ta cần chiêm nghiệm học hỏi.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.