Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

tinh tấn chánh niệm tỉnh giác

540 câu · trang 5/180

Thưa Sư, con có thắc mắc về việc hành chánh niệm tỉnh giác xin Sư chỉ giáo. Theo như lời hướng dẫn của một vài thiền sư (như ngài Goenka và ngài U.Tejaniya), nếu con nhớ và hiểu không nhầm thì có xu hướng dạy cho thiền sinh có thói quen giữ chánh niệm tỉnh giác, tức là tạo "đà" chánh niệm tỉnh giác để sau khóa tu họ vẫn có "đà" đó để tiếp tục trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng con băn khoăn như vậy có biến sự tỉnh giác thành một thói quen máy móc không mà trở thành thiếu tỉnh giác? Và phải chăng chánh niệm tỉnh giác không thể tập luyện hay vun trồng được? Chẳng phải kinh nghiệm trong khóa tu sẽ quy định những gì xảy ra trong những ngày tới của họ sao?

Chánh niệm là trọn vẹn với thực tại thân thọ tâm pháp, và tỉnh giác là trực nhận thực tại đó một cách trong sáng trung thực, không qua bất kỳ khái niệm nào. Như vậy chánh niệm tỉnh giác chỉ xảy ra tại đây và bây giờ thôi, nên không thể rèn luyện cho thành thói quen để "lấy đà" cho ngày mai được. Rèn luyện là dùng ý chí để tập thành thói quen, nhưng chính thói quen và ý chí là hai trở ngại làm cho tâm mất chánh niệm tỉnh giác. "Lấy đà" là chuẩn bị cho một kết quả tương lai, trong khi chánh niệm tỉnh giác thì phải là đối tượng thực tánh ngay trong hiện tại. Chánh niệm tỉnh giác không phải là công cụ của bản ngã để đạt được mục đích của nó, mà chính là khi buông cái ngã lăng xăng tạo tác xuống thì chánh niệm tỉnh giác liền xuất hiện một cách tự nhiên, vô ngã. Nhiều người hành thiền tuệ nhưng lại sử dụng tầm tứ của thiền định mà tưởng là đang hành chánh niệm tỉnh giác. Đó là sai lầm rất nghiêm trọng. Tầm tứ là hướng tâm tìm kiếm một đối tượng đã được chọn trước, trong khi chánh niệm tỉnh giác là thái độ trong sáng trọn vẹn với thực tại như nó đang xuất hiện một cách hoàn toàn tự nhiên không chọn lựa và tìm kiếm.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính thưa thầy! Con đã có duyên đọc được những trang trả lời thắc mắc của các vị đồng tu khắp năm châu gởi về nhờ thầy chỉ dạy. Đây là những bài học ngàn vàng mua không nổi. Nhờ đâu mà thầy có thể thấu triệt Phật pháp một cách rốt ráo như vậy? Trong những bộ Kinh đại thừa, ví dụ như Kim Cang kinh, nếu con đọc hiểu và ứng dụng vào hoàn cảnh sống hiện tại thì như vậy có phải là con đang tu không? Xin thầy từ bi chỉ dạy thêm cho con hiểu một cách cụ thể là làm sao để buông cái bản ngã đang lăng xăng tạo tác? Đạt vô ngã tức đạt Niết-bàn phải không thưa thầy? Nói như thế có phải là con đang tham không? Con mong tin thầy.

Bản chất của cái ngã lăng xăng là luôn tìm cách bám trụ. Cái gì nó ưa thích thì liền tham đắm, cái gì nó ghét bỏ thì cố loại trừ. Về tri thức cũng vậy nó bám vào tư kiến của mình rồi hình thành kết luận và mắc kẹt trong đó mà thành tà kiến. Do đó, trong thiền Tứ Niệm Xứ đức Phật cảnh báo: "Sống không nương tựa, không chấp trước điều gì ở đời" và gần 700 năm sau Kinh Kim Cang cũng dạy: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm". Khoảng 400 năm sau nữa Ngài Huệ Năng khi nghe Ngài Hoàng Nhẫn đọc câu này liền ngộ.

Buông cái ta lăng xăng tạo tác cũng đồng nghĩa với "Không nương tựa, không chấp trước điều gì ở đời". Nếu thấy cái ta chỉ là ảo tưởng liền không bám trụ vào nó thì gọi là buông, lúc đó không còn cái ta ảo tưởng che lấp nên thực tánh liền hiển lộ trong tánh thấy, nên Kinh Viên Giác gọi là "Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác". Đó chính là ý nghĩa đích thực của Thập Độ Ba-la-mật (Pàramì). Sống được như vậy thì chữ tu không còn là nỗ lực của bản ngã nữa, nên Phật gọi đó là "sống thuận Pháp" (Dhammànudhamma patipanno viharati).

Để sống được vô ngã thuận pháp chỉ cần tại đây và bây giờ thường tinh tấn chánh niệm tỉnh giác hay thận trọng chú tâm quan sát ngay nơi mỗi động tịnh của thực tại thân tâm thì bản ngã vô minh ái dục không còn cơ hội xen vào bám níu và lăng xăng tạo tác ra Tập đế. Không Tập đế thì Khổ đế cũng không còn. Không còn Tập đế và Khổ đế thì ngay đó chính là Đạo đếDiệt đế (Niết-bàn). Chúng ta nên nói Niết-bàn là vô ngã hoặc nói chấm dứt hoàn toàn bản ngã tham sân si là Niết-bàn thì đúng hơn.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Namo Buddhaya!

Kính bạch thầy, từ ngày con tham dự khóa giảng 7 ngày của thầy ở Hà Nội (vào trung tuần tháng 4 năm 2010) đến nay con đã thôi không tụng Kinh nữa vì lời dạy trong Kinh đối với con rất trừu tượng khó thực hành trong cuộc sống. Nay con chỉ niệm Phật, sám hối và làm theo như lời thầy đã chỉ dạy là thận trọng, chú tâm, quan sát trong mọi công việc hàng ngày. Nhưng kết quả đến với con rất chậm, thất niệm vẫn rất nhiều. Con kính xin thầy hoan hỉ dạy rõ cho con cách sám hối như: sám hối cái gì? Sám hối thế nào? Hoặc tìm hiểu bài sám hối ở đâu? Có phải sám hối là thân, khẩu, ý sám hối không? Lạy Phật có phải là sám hối không? Con vô cùng tri ân công đức bố thí Pháp của thầy. Con kính mong thầy luôn an lạc ạ!

  1. Khi đã biết sống khám phá sự thật thì con cứ nhiệt tình học ra bài học của mình, còn chậm hay nhanh là chuyện của pháp. không nên nóng vội. Sống khám phá pháp không phải để đạt được tình trạng lý tưởng như đã định trước, mà là không mê mờ trong pháp để học ra bài học mới mẻ từng giây từng phút. Pháp luôn vô ngã nên chỉ cần thấy pháp thôi chứ đâu có cái tôi để mong đạt được như ý mình. Hãy cảm nhận được sự hứng thú trong từng giây phút khám phá cái thật hơn là mong cầu đạt được nó. Đạt được là đã rơi vào cái ngã rồi làm sao thấy pháp được? Thất niệm là tâm bôn ba tìm kiếm bên ngoài, không còn trọn vẹn với thức tại thân tâm nữa. Khi nhận ra tình trạng thất niệm, tạp niệm hay vọng niệm thì ngay đó đã là chánh niệm rồi, chứ không cần dùng một niệm nào đó để cố gắng nắm bắt thực tại. Thường người ta hướng tâm truy tìm và nắm bắt pháp (bằng tầm, tứ) như một mục đích để đạt đến, chứ không thực sự trở về thực tại để thấy nó như nó đang là (bằng chánh niệm - tỉnh giác), nên tâm vẫn cứ thường dao động bất an. Chánh niệm thật sự thì vô tâm, vô niệm, vô ngã nên mới gọi là không, vô tướng, vô tác, vô nguyện, như Phật đã dạy: "Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây". Hãy nhớ: Thất niệm như thật biết thất niệm đó chính là chánh niệm tỉnh giác.

  2. Tạ ơn và sám hối là việc nên tự nhắc nhở mình hàng ngày. Chúng ta được sinh làm người để học bài học giác ngộ là đã mang ơn Tam Bảo, Trời Đất, Thầy Tổ, Cha Mẹ, Chư Thiên và vô số chúng sanh nên trước tiên cần phải chân thành biết ơn và tạ ơn tất cả. Ngay cả những pháp đối nghịch cũng đã giúp chúng ta học được nhiều bài học quý giá như lòng nhẫn nại, từ bi v.v. Đồng thời khi còn cái ta vô minh ái dục chúng ta đã vì lòng ích kỷ cá nhân mà đối nghịch với Tam Bảo, Trời Đất, chư Thánh Hiền, Bồ-tát và Cha Mẹ, Thầy Tổ ... cũng như gây khổ đau tổn hại đến vô số chúng sanh. Do đó, tạ ơn - sám hối là pháp mà bất cứ ai bắt đầu ý thức được sự quan hệ mật thiết trong cuộc sống trùng trùng duyên khởi đều tự thấy ra đó là trách nhiệm của mình.

Cũng không cần phải có một phương pháp tạ ơn sám hối nào nhất định, mà chủ yếu là ở tấm lòng. Cách thể hiện thì tùy người tùy hoàn cảnh. Nên tự mình thấy ra hơn là làm theo một bài bản sẵn có. Khi chúng ta đọc mãi một lời tạ ơn sám hối soạn sẵn thì dễ rơi vào máy móc, quán tính và lâu ngày sẽ không còn sinh khí để cảm ứng xúc động nữa. Và cụ thể hơn nữa là biểu hiện bằng hành động thiết thực đối với Tam Bảo, Cha Mẹ, Thầy Tổ, những người, vật và hoàn cảnh xung quanh với tâm tôn kính, thương yêu, thông cảm, bao dung, tha thứ v.v... Đó mới thật sự là tạ ơn sám hối.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.