Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

tông phái & pháp môn

62 câu · trang 1/21

Thầy ơi, có phải hầu hết các kinh điển Đại thừa Bắc Tông đều mang tính biểu tượng và ẩn dụ về mặt nội dung không ạ? Ví dụ như Quan Thế Âm Bồ Tát là biểu tượng của lòng từ bi của mỗi chúng ta; Bồ Tát Đại Thế Chí là biểu tượng cho sự tinh tấn của mọi người; Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi là biểu tượng của trí tuệ... Và nếu hiểu như thế thì nội dung các kinh Đại thừa cũng hầu như chẳng mâu thuẫn với nội dung kinh điển Nguyên thủy là mấy. Và nếu hiểu một cách biểu tượng như vậy thì mọi so sánh Bồ Tát cao hơn hay vị A-la-hán cao quý hơn, tranh luận Đại thừa hay Tiểu thừa đều vô nghĩa, là phù phiếm phải không thầy?

Đúng vậy, con nhận thức rất chính xác. Mọi phân biệt có tính kỳ thị dù từ phía tông phái nào cũng đều chủ quan lệch lạc do chưa thấy được chân lý cốt lõi của Phật Pháp. Người thấy Pháp sẽ không còn thái độ sai lầm đó nữa. Chân lý mà đức Phật giác ngộ và chỉ bày không phải do Ngài đặt ra mà là chân lý muôn đời, bất kỳ ai giác ngộ cũng đều thấy chân lý ấy như nhau. Bao lâu còn phân biệt chân lý của anh hay chân lý của tôi... thì không còn là chân lý nữa.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa Thầy,

(a) Tại sao tu sĩ Phật Giáo phải sống độc thân và ăn chay? Con nghe nói Phật Giáo Tây Tạng không buộc các tu sĩ phải sống độc thân, điều đó có đúng không ạ?

(b) Trong nhiều bản kinh (đại thừa?) có những đoạn có vẻ trọng nam khinh nữ. Chẳng hạn có nói nếu đọc kinh này... bao nhiêu lần thì sẽ không đầu thai làm con gái nữa v.v...

Phật giáo nguyên thủy quan niệm như thế nào về những việc này? Đức Phật Thích Ca đã có giảng như thế nào về những việc này?

Con xin cám ơn Thầy,

Nguyên

a) Tu sĩ Phật giáo cũng tùy tông phái hoặc địa phương mà có ăn chay hay không ăn chay, sống độc thân hay có gia đình. Điều này tuỳ thuộc vào chủ trương của mỗi tông phái và họ cũng có cái lý riêng của họ. Tu sĩ sống độc thân để không bị ràng buộc vào đời sống gia đình, nhờ vậy họ dễ dàng vân du hành đạo và sống đời sống vô ngã vị tha hơn.

b) Thực ra không phải trọng nam khinh nữ, mà thực tế trong đời sống tu tập người nam có nhiều thuận lợi hơn người nữ. Nhất là trong đời sống xuất gia, người nữ khó sống một mình trong rừng hay những nơi hoang vắng chẳng hạn. Chính vì một số điều bất tiện hơn người nam mà nhiều người tu thích có thân nam hơn thân nữ. Nhưng về mặt tu chứng giác ngộ giải thoát thì Phật giáo không phân biệt nam nữ gì cả.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa Thầy, con nghe nói thời kỳ Chánh Pháp là 500 năm, tượng pháp là 1000 năm, và mạc pháp là 10.000.000 năm. Thời kỳ Chánh Pháp và tượng pháp thì còn có thể tu hành chứng quả, còn thời kỳ mạc pháp thì khó có thể chứng đắc và có thầy còn nói thời này là thời mạc pháp chỉ có thể niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ mới chắc chắn thoát khỏi sanh tử luân hồi. Con rất là phân vân, xin Thấy từ bi gỡ rối cho con. Con thành thật tri ân thầy.

Thời kỳ Chánh Pháp là thời gian còn giữ nguyên vẹn Giáo Pháp uyên nguyên của Đức Phật. Tuy 200 năm sau đức Phật Niêt-bàn đã có manh nha một vài kiến giải thay đổi nhưng không đáng kể. Mãi đến 600 năm sau Phật lịch thì mới có sự biến đổi lớn. Trong thời kỳ này nhiều bộ Kinh và Luận ra đời, chủ yếu là biểu hiện tư tưởng triết học và tín ngưỡng của các Luận sư hay Tổ sư. Sự phát triền này đã hình thành nhiều học thuyết và pháp môn phương tiện khác nhau cho phù hợp với căn cơ trình độ dị biệt của con người. Nội dung chính vẫn đúng với Pháp Phật nhưng phương pháp và cách lý giải có sai khác phần nào nên giai đoạn này được gọi là Tượng Pháp. Tượng nghĩa là tương tự như Chánh Pháp nên nếu hiểu đúng thì vẫn là Chánh Pháp, nhưng nếu hiểu sai thì liền rơi vào tà đạo. Nên chính các Tổ cũng cảnh báo là "Ly KInh nhất tự tức đồng ma thuyết". Từ Tượng Pháp giúp người sau lưu ý rằng vận dụng sáng tạo là tốt nhưng đừng để xa rời Chánh Pháp. Ứng theo lịch sử Phật Giáo thì đúng là thời kỳ Tượng Pháp kéo dài khoảng 1.000 năm, chấm dứt vào khoảng cuối thời kỳ Thiền Tông phân thành 5 phái.

Như vậy, đúng là khoảng 1.500 năm sau Phật Lịch thì Phật Giáo rơi vào thời kỳ Mạt Pháp. Mạt ở đây có nghĩa là nhánh ngọn. Nên trong thời kỳ này các Tông Phái chính phát xuất từ thời Tượng Pháp lại một lần nữa phân chia ra nhiều chi nhánh nhỏ, và mỗi trường phái này tự vận dụng ra phương pháp tu tập riêng theo vị đạo sư của mình. Chính vì sự phân chia nhánh ngọn này mà gọi là thời kỳ Mạt Pháp. Trong thời kỳ này, phần lớn không được học hỏi Chánh Pháp mà chỉ biết tu theo phương tiện của trường phái mình nên khó mà đạt được các bậc Thánh. Tuy nhiên trong thời kỳ này vẫn có những vị Tu-đà-hoàn sinh lại 7 lần, hoặc các vị Bồ-tát đang tu tập chơn chánh (chứ không hiểu theo nghĩa Bồ-tát cứu độ) duy trì Chánh Pháp của Phật, nên những người hữu duyên vẫn có thể tu học đúng Chánh Pháp, có hiệu quả rất cao, chứ không nên quá bi quan như vậy.

Tất nhiên những người căn cơ còn non yếu thì tu theo Mạt Pháp vẫn tốt, vì mạt chứ không phải là mạc theo nghĩa tàn tạ, hư đốn, nên nhánh ngọn mà tu cho đúng thì vẫn là thành phần của đại thọ Phật giáo. Phật giáo được ví như một cây cổ thụ. Gốc và thân gọi là Chánh Pháp, những cành lớn tương tự như thân cây chính nên gọi là Tượng Pháp, còn nhánh ngọn sum sê tươi tốt gọi là Mạt Pháp, chứ đừng hiểu thành Mạc Pháp là cây đã héo tàn mà bi quan yếm thế!

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.