Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

tông phái & pháp môn

62 câu · trang 2/21

Kính thưa Thầy, con đã có duyên may được đến nghe Thầy giảng Thiền (Khóa thứ 5 tại Tổ đình Bửu Long) vừa qua, con vô cùng cảm ơn Thầy đã khai thị cho con một số không ít những vấn đề về Phật pháp. Nay con có một thắc mắc này, xin Thầy vui lòng chỉ bảo, giải thích giúp con:

Thưa Thầy, đọc qua một số kinh sách Bắc Tông, con thấy các vị Bồ-tát thường có hạnh nguyện: "Khi nào chúng sinh chưa được độ tận thì ta chưa thành Phật", hoặc khi đã thành Phật thì nguyện rằng: "Khi nào chúng sinh còn khổ thì ta còn trở lại thế giới Sa-bà này để độ chúng sinh qua bến giác". Thưa Thầy, theo con hiểu thì khi những hạnh lành (Bồ-tát) hay tánh biết (Tánh Giác, Phật) nơi ta khai mở thì ta sẽ có từ bi, trí tuệ... tương ứng, và vấn đề hạnh nguyện chỉ là một cách diễn dịch của người đời bằng khái niệm hình tượng, ngôn từ mà thôi. Hoặc những người còn mê muội như chúng con, trên con đường học Phật, cần nói như vậy để khuyến khích phát triển hạnh nguyện hầu tiến dần đến khai mở tánh biết và hạnh lành. Còn nếu nhìn bằng nhãn quan nhị nguyên hoặc xét từ góc độ của quy luật âm dương thái cực, thì chẳng lẽ Phật và Bồ-tát cũng vẫn còn luân hồi sinh tử, vì mọi sự vật hiện tượng khi đã đạt mức cực dương thì sẽ chuyển sang âm: giống như khi ta đã đạt được quả vị Phật rồi thì lại trở xuống làm chúng sinh. Nói cách khác, khi nào còn "Ma" thì còn "Phật" (mà cuộc sống thì chẳng bao giờ hết "Ma" nên nếu hiểu thế giới theo kiểu nhị nguyên đối đãi: luôn có sai có đúng, có Ma có Phật, có yêu có ghét...), và chỉ khi nào không còn bản ngã tham sân si thì mới thấy thế giới như thực tánh, không còn thấy Ma thấy Phật nữa mà thôi.

Con xin tóm lại, điều con muốn hỏi là phải chăng từ Phật trong quan niệm này là chỉ cho tánh giác và Bồ-tát là ám chỉ cho hạnh từ bi, trí tuệ... Khi khai mở được tánh biết(Phật) và các hạnh làmh (Bồ-tát) đến tột độ thì chỉ thấy từ bi, trí tuệ... không còn thấy ma thấy Phật, thấy sinh thấy tử nữa. Chứ Phật và Bồ tát nếu còn thị hiện một cách hữu vi như chúng sinh thì vẫn luân hồi sinh tử như thường, có phải không ạ?

Thành kính cảm ơn Thầy.

Ngọc Thu

Giáo lý nguyên thủy của đức Phật hầu như không đề cập đến những vấn đề Phật và Bồ-tát thị hiện cứu độ chúng sanh theo kiểu đó. Quan niệm này mãi đến 600 năm sau đức Phật nhập diệt mới phát sinh trong các Hệ Phái Phật Giáo phát triển. Đến hơn 1.100 năm sau đức Phật Niết-bàn, Thiền Tông Đông Độ ra đời, vị Tổ thứ 6 là Ngài Huệ Năng đã xác định lại "độ chúng sanh" là vượt qua vô số phiền não phát sinh trong tâm (Tự tánh chúng sanh vô biên thệ nguyện độ). Bởi vì một số Luận Phái phát triển đã biến Phật Pháp thành triết học và tín ngưỡng để đáp ứng yêu cầu sở tri và sở đắc của con người, hơn là chú tâm vào việc hóa giải những khổ đau bức thiết trong hiện tại, như tinh thần giác ngộ giải thoát ban đầu của đức Phật.

Bồ-tát theo nghĩa nguyên thủy là người biết sử dụng tánh giác để giác ngộ và giải thoát khỏi cái ta ảo tưởng. Chính cái ta ảo tưởng này tạo ra "vô số chúng sanh phiền não đau khổ trong tâm" mà chủ yếu là phát xuất từ vô minh ái dục, cụ thể như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến v.v. Chính những "chúng sanh" này là hiện thân của đau khổ và tạo ra đau khổ cho mỗi người, vì vậy đối với bất cứ ai khi chưa "độ tận" chúng sanh (vượt qua phiền não) trong tâm mình thì có muốn thành Phật cũng không được, nên muốn giải thoát thì phải phát hạnh nguyện độ thoát phiền não (bản ngã chúng sanh) chứ đâu còn cách nào khác! Đối với chúng sanh bên ngoài thì người giác ngộ có thể chỉ đường cho họ để họ tự đi chứ không ai độ ai được.

Còn nói Phật thị hiện theo kiểu "Khi nào chúng sanh còn khổ thì ta còn trở lại thế giới ta-bà để độ chúng sanh qua bến giác" thực ra chỉ có nghĩa là khi nào còn xem thân ngũ uẩn này là bản ngã thì còn "chúng sanh phiền não khổ đau" nên gọi cái ta ngũ uẩn là thế giới sa-bà. Lúc đó chỉ còn trông cậy nơi tánh giác quay trở lại (chánh niệm) soi sáng mới mong phá trừ mọi vọng niệm (tỉnh giác) của cái ta ngũ uẩn đó để cứu thoát thực tại thân tâm (thân, thọ, tâm, pháp) ra khỏi cái ta ảo tưởng tạo tác khổ đau sinh tử mà thôi. Vì vậy câu nói trên có thể hiểu như sau: "Khi nào còn phiền não khổ đau (chúng sanh khổ), thì tánh biết phải nguyện quay lại nơi thân ngũ uẩn này (thế giới sa-bà) để hóa giải cái ta ảo tưởng trở về với thực tánh pháp"

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kinh thưa Thầy. Đầu thư con chúc Thầy nhiều sức khỏe. Con có môt vấn đề xin hỏi Thầy: Từ một giáo phái nói rằng không còn địa ngục nếu đi theo tu hành, đến một giáo phái chỉ cần niệm thôi thì ngày chết sẽ được về... Con tin theo và thọ giáo tu hành, kinh sách nào liên quan con cũng mua về và đọc tụng, tin tưởng tuyệt đối để rồi hôm nay con ngộ ra rằng mình đã sai lầm. Từ duyên gặp trang web của Thầy và cũng có duyên xem được đĩa VCD của 1 Thầy Nguyên thủy giảng tại sao mình khổ (đó là do mình), con đã quy y với Thầy, học khóa giảng thiền của Thầy, tự học đọc Kinh Nguyên Thủy, đặt bát cúng dường, lễ PHẬT chùa Nguyên Thủy lòng con thấy thanh thản và hình như tìm thấy Chánh Pháp rồi. Nhưng có một điều là ánh mắt của con đối với những vị giáo phái trước kia không còn thiện cảm nữa mặc dù con vẫn tôn trọng và cúng dường. Như vậy con có tội không Thầy? Xin Thầy ban cho con một lời chỉ dạy. Con cám ơn Thầy.

Các pháp môn phương tiện của các Tông phái phát triển đều do chư Tổ về sau tùy căn cơ mà vận dụng cho bá tánh dễ tu tập cho nên đôi lúc hơi cường điệu một chút mới gây được niềm tin. Phần lớn các vị Tổ có chủ đích tốt khi cố ý cường điệu như thế nên khi ai tin theo mà hết lòng tu tập thì có kết quả tốt, và lúc đó sẽ tự hiểu ra vì sao Tổ lại làm như vậy. Tuy nhiên, hậu nhân lại tưởng chỗ cường điệu đó là điểm chính yếu và ưu việt của Tông môn mình nên đã phát huy cái phụ thay vì cái chính của pháp môn. Đó là lý do vì sao các Tông môn ngày càng đi sai hướng vận dụng ban đầu của Tông phái mình.

Nếu thấy Tông môn nào đã đi lệch hướng thì con có quyền không theo nữa, nhưng không nên có ý xem thường, tốt nhất là nên có tâm từ bi với họ. Đâu có ai đúng mà chưa từng sai bao giờ, cho nên khinh thường cái sai chính là tâm ngã mạn.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính thưa Thầy. Xin Thầy cho con hỏi: Con thấy Quý Ngài Tăng Thống Tích Lan đến thăm các chùa Nguyên thủy Việt Nam sao lại thuộc hệ phái... Xin Thầy giải thích rõ cho con Tích Lan có bao nhiêu hệ phái và những hệ phái đó Quý Ngài tu như thế nào (chuẩn). Con cám ơn Thầy. Chúc Thầy nhiều sức khỏe.

Từ hệ phái này không có nghĩa là Nam Tông, Bắc Tông, Khất Sĩ v.v... như ở Việt Nam. Thực ra dùng từ hệ phái không đúng vì tất cả các nước theo Phật Giáo Theravada đều cùng chung một hệ phái Nam Tông hay Nguyên Thủy, đều lấy Tam Tạng Pali làm gốc, gần như nội dung không có gì khác nhau. Chỉ khác nhau về hệ thống tổ chức và sở trường pháp hành, nên mỗi phái có Tăng Thống riêng. Có lẽ dùng từ hệ thống hoặc trường phái thì đúng hơn, vì lý do sau đây:

  1. Do xuất xứ của tổ chức, ví dụ như một số vị Tăng Tích Lan đi du học Thái Lan, Miến Điện... khi về nước tổ chức chùa chiền, đệ tử, sinh hoạt theo truyền thống Phật Giáo Nam Tông Thái Lan, Miến Điện. Những vị học trong nước thì giữ truyền thống Tích Lan. Do vậy ở Tích Lan có ba truyền thống tổ chức Phật Giáo Nam Tông riêng nhưng không khác nhau gì mấy, họ vẫn sinh hoạt chung, tu học chung, hành lễ chung với nhau không có gì trở ngại v.v... và tuyệt đối không có mâu thuẫn đối kháng.

  2. Do pháp hành sở trường của mỗi vị thầy mà biệt truyền thành trường phái riêng. Ví dụ vị thầy thiện xảo về thiền định hay thiền tuệ thì phát triển chùa chiền và đệ tử thành một trường phái chuyên về thiền định hay thiền tuệ. Điều này giống như các Tông môn ở Việt Nam, tuy riêng biệt theo truyền thống pháp môn tổ khai sơn của mình nhưng vẫn cùng hệ phái Bắc Tông. Tông môn ở Việt Nam còn có nhiều chỗ khác nhau, còn trường phái của Tích Lan thì chỉ sở trường về pháp hành thôi nên có thể học hỏi trao đổi lẫn nhau và sinh hoạt chung không có gì trở ngại.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.