Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

Tứ vô lượng tâm từ bi hỷ xả

50 câu · trang 3/17

Con xin phép được hỏi về cách để tập tâm bi.

Theo con hiểu karuna có hai phần. Phần 1 là thấy nỗi đau khổ của chúng sinh khác như nỗi đau khổ của chính mình. Phần 2 là làm cái gì cho bớt nỗi khổ đau đó.

Con thấy con rất kém về cả hai phương diện này. Xin Thầy từ bi chỉ dạy cho con cách tu tập để cho khi con gặp cảnh này, con không bỏ lỡ môt dịp tạo phước báu.

Con thành kính nhớ ơn Thầy.

Bi không hẳn là phải đau cái đau của người và cố gắng giúp người hết đau. Bi chỉ cần là không có tâm làm tổn hại bất kỳ ai hay bất cứ vật gì là đủ. Khi có ý nghĩ, nói năng, hành động hại người - hay dù là chỉ hại mình - cũng không có tâm bi. "Trí không bi là trí thông minh điêu xảo, bi không trí là bi thương hảo thương quàng". Không muốn làm khổ ai, dù chỉ trong ý nghĩ, vì luôn thấu hiểu (trí) và cảm thông (bi) nỗi khổ đau của người khác, chứ không phải khổ theo cái khổ của họ rồi cho là bi. Khổ theo cái khổ của người khác là bệnh đồng hoá cảm giác hoặc cảm xúc với họ trong sự tha hoá, chứ không phải lòng bi mẫn.

Mặt khác, giúp người hết khổ không hẳn là bi, vì đôi lúc giúp họ hết khổ chính là can thiệp vào bài học gieo nhân gặp quả của họ, mà lẽ ra qua kết quả Khổ đế đó họ giác ngộ ra Tập đế - nguyên nhân tạo ra cái khổ của họ - mà biết dừng lại việc tạo tác nhân hại người hại vật. Người có tấm lòng vô ngã vị tha đương nhiên là có thể xả thân cứu người khi cần thiết, nhưng phải hiểu rằng trong sự vận hành nhân quả của Pháp đã có tính chất Bi Mẫn vô lượng, ngầm nhắc bảo chúng sinh biết tự điều chỉnh nhận thức và hành vi của mình cho thuận theo lẽ đạo mà không để họ ỷ lại vào tha lực. Nếu muốn học bài học Tâm Bi vô lượng thì vị Bồ-tát cần thấu hiểu sự bình đẳng, tính từ bi hỷ xả, tính giáo dục rất hoàn hảo trong sự vận hành của Pháp. Đó chính là trí trong bi và bi trong trí vậy.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Con xin kính đảnh lễ sư ông, con có câu này muốn hỏi sư ông ạ.

Vừa qua, con bắt đầu thận trọng, chú tâm và quan sát mọi thứ xung quanh để nhận biết mọi thứ như nó vốn là, không để tâm mình bám lên đó, từ đó gây ra bao ảo vọng, đau khổ. Hiện giờ, cái con không hiểu là vậy tứ vô lượng tâm (là từ, bi, hỷ, xả) của người tu là từ đâu đến, đó có phải là những vọng động sinh để rồi ra ảo vọng không? Nếu những tâm này làm ta khởi sanh hành động hướng đến đối tượng đó thì có phải mình kết thêm nhân không? Trở lại chuyện đời thường, khi mình thấy người khác đau khổ, sung sướng, sân hận, lầm lạc thì người tu phải quán chiếu (hành trình tâm) và hành động (tạo tác ra ngoài) như thế nào ạ?

Thưa sư ông, mỗi lần phát tâm từ, bi, hỷ, xả con thấy rất an lạc, nhưng băn khoăn không biết liên kết các tâm này với việc tu tập "kiến tánh", nên có câu hỏi như vậy. Kính mong được sư ông cho con một giải thích, con cảm ơn sư ông.

Vipassanā-ñāna là tuệ thấy thực tánh chân đế (kiến tánh), vì vậy trí tuệ chính là thận trọng, chú tâm, quan sát (tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác hoặc liễu liễu thường tri) thấy mọi sự vật trung thực như nó đang là. Khi tuệ tri như thế tâm không bị sân, hại, ganh và chấp xen vào. Không sân tức là từ, không hại tức là bi, không ganh tức là hỷ, không chấp tức là xả. Vậy từ bi hỷ xả luôn đi cùng trí tuệ, nói cách khác có trí tuệ thì liền có từ bi hỷ xả một cách tự nhiên. Trí tuệ và từ bi hỷ xả này đều xuất phát từ tự tánh của tâm (tánh biết) nên hoàn toàn vô vi, vô ngã.

Tuy nhiên, vẫn có loại trí tuệ và từ bi hỷ xả hữu vi, hữu ngã do lý trí và ý chí của ý thức con người cố công luyện tập mà có, nên còn hữu hạn trong tam giới, loại này tuy cũng đem đến an lạc nhưng do còn hữu vi, hữu ngã nên vẫn chỉ là sở tri, sở đắc và vẫn trở thành sở tri chướngphiền não chướng làm trở ngại cho vipassanā-ñāna (kiến tánh) thật sự (xem 10 chướng ngại của thiền vipassanā). Lúc đầu do hành giả tưởng có thể rèn luyện tu tập để đạt được những sở tri, sở đắc ấy, không biết rằng Phật đã dạy rất rõ ràng:

Quả thật điều bất lợi

Người ngu sinh sở tri (hoặc sở đắc)

Hủy phần sáng của mình

Tự chẻ đầu chính nó. (Dh. 72)

(Sở tri, sở đắc thuộc hữu vi hữu ngã làm phân tán tri và hành nên nói là chẻ đầu làm hai. Phần sáng của mình chính là trí tuệ và tâm vô lượng vốn sáng chói (pabhassara citta) có sẵn trong tự tánh mỗi người)

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Bạch Thầy, xin Thầy cho con biết tình thương của Đức Phật khác với tình thương của chúng sanh ở điểm nào?

Phật chẳng thương ai, chẳng ghét ai

Phật cùng chúng sanh vốn chẳng hai

Chúng sanh luyến ái tâm nhân ngã

Chư Phật từ bi tánh bản lai.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.