Kính bạch Thầy!
Con là Phật tử tu theo Bắc tông đã được 10 năm. Các thầy bên Bắc tông thường nói tu theo nhị thừa vẫn còn kẹt do chán sinh tử cầu Niết-bàn và không có hạnh nguyện rộng lớn để độ chúng sinh mà chỉ muốn nhập Niết-bàn (các thầy thường ví dụ câu: Ta sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa để chứng minh các bậc A-la-hán không muốn tái sinh để độ chúng sinh như Bồ tát). Trước đây con tin tưởng hoàn toàn và không có nghi ngờ gì, luôn cho rằng pháp tu của mình là cao nhất, tốt nhất.
Tuy nhiên từ khi được đọc sách của Thầy, nghe pháp của Thầy và được gặp Thầy, con mới thấy hóa ra thực tế không phải như thế. Thầy đã tháo gỡ cho con rất nhiều vướng mắc trên đường tu mà trước giờ con cứ luẩn quẩn hoài không thoát ra được. Trước con luôn mong cầu được giác ngộ nên cố gắng giữ cho tâm vô niệm để mong chờ một ngày nào đó phát sinh trí tuệ. Nhưng tâm con lại không tĩnh lặng được nên sinh phiền não, tức là ngoài cái phiền não thông thường còn thêm một lớp phiền não nữa do muốn an mà chẳng được an. Rồi một lần khi đọc bài giảng của Thầy về Tứ Diệu Đế (trước đây con vẫn cho là pháp tiểu thừa), con chợt nhận ra khi đi biết mình đang đi, ngay đó biết luôn mà không cần đợi ngày mai ngày kia mới biết, sao lại còn mong cầu gì ở tương lai nữa. Con cũng hiểu ra thế nào là vô vi vô tác (trước con được nghe giảng vô là không, vi là làm, vô vi là không làm nên còn khá mơ hồ). Vô vi vô tác là làm gì thấy gì nghe gì thì ngay đó liền biết, không cần cố gắng dụng công gì, không phải tập trung cao độ mới biết mình đang nóng hay lạnh. Con thấy ra được những sai lầm trong việc tu của mình, vì mong cầu sự giác ngộ trong tương lai mà bỏ qua thực tại hiện tiền, tâm luôn phản kháng với những điều bất như ý (muốn định nhưng lại vọng tưởng, mặc dù giờ con vẫn còn cái tâm phản kháng do thói quen từ trước đã ăn sâu nên không thể ngày một ngày hai hết ngay được).
Con không hiểu tại sao trong Phật giáo các thầy lại phân biệt pháp môn cao và thấp. Theo con thì pháp vốn chẳng có cao hay thấp, pháp dựng lập qua ngôn ngữ, mà ngôn ngữ thì không phải cứu kính. Sự cao hay thấp có chăng là mức độ nhận ra sự thật ở mỗi người. Nếu một người ngay một câu nói đơn giản đời thường mà giác ngộ hoàn toàn thì đó là pháp "cao", còn nếu người đó tu theo pháp môn "cao" mà vẫn không giác ngộ lại mắc kẹt trong đó thì "cao" lại thành "thấp". Vì vậy quan trọng là người đó phù hợp với pháp môn nào, pháp môn nào giúp người đó nhận ra sự thật chứ không phải có pháp môn "cao" giúp người triệt ngộ, pháp môn "thấp" khiến người bị kẹt.
Thư con trình bày hơi dài, mong Thầy từ bi hoan hỷ chỉ cho con những điều con hiểu chưa đúng.
Con xin thành kính tri ân công đức Thầy!
Con đã thấy rất đúng. Đức Phật dạy mỗi người phải tự mình giác ngộ giải thoát - thấy ra Sự Thật Rốt Ráo để thoát khỏi mọi ảo tưởng tạo ra sinh tử luân hồi - thì mới có thể chỉ cho người khác biết cách tự giác ngộ giải thoát chính họ được. Sự Thật Rốt Ráo không của riêng ai, không có cao thấp, hơn thua, không do nỗ lực con người tạo tác mà thành.
Đó là Sự Thật mà trong Udāna đức Phật dạy là pháp "không sinh, không hữu, không tác, không thành" - tánh không vô vi vô ngã - và tu chính là thấy ra và thoát khỏi ảo tưởng "sinh-hữu-tác-thành" hữu vi hữu ngã của thế gian. Khi không còn bị che lấp bởi thế gian hư huyễn do "cái Ta ảo tưởng" tạo thành, thì ngay đó thế giới chân thật - Niết-bàn không sinh-hữu-tác-thành liền hiện ra.
Vậy "sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa" chính là không còn trở lại thế gian hư huyễn dựng lên bởi "cái Ta ảo tưởng" mà đức Phật gọi là sinh-hữu-tác-thành nữa, vì đã thâý ra thế giới chân thật - Không sinh, không hữu, không tác, không thành, tức Niết-bàn không sinh không diệt. Đó cũng chính là "Sinh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền" trong pháp tu "Phản Văn" rốt ráo nhất của Kinh điển Bắc Tông. Vậy chỉ do một số cá nhân chấp "cái ngã tông phái" mới sinh tâm phân biệt cao thấp mà thôi.