Người hành đề mục thở vô thở ra thường nhầm lẫn với luyện khí công Trung Hoa hoặc yoga Ấn Độ và họ tập chú ý ghi nhận cảm giác ở cửa mũi vùng huyệt nhân trung giữa môi trên, hoặc để ý đến huyệt khí hải dưới rốn ở vùng bụng. Hai trường phái này đều thuộc về thiền định vì chủ yếu là họ mượn những vùng nhân trung hoặc khí hải (huyệt trọng yếu trong cơ thể) để điều thân, điều khí và điều ý.
Khi hành giả tập trung sự chú ý vào khái niệm hơi thở và biến khái niệm này thành đối tượng thiền tướng (nimitta) để định tâm thì người đó đang thực tập thiền định (Jhàna, samàdhi). Trong thiền định sự tập trung chú ý này được gọi là tầm (vitakka) và tứ (vicàra). Sau đó nếu sự tập trung tư tưởng thành công thì hỷ (pìti), lạc (sukha) và nhất tâm (ekaggatà) sẽ phát sinh và đạt được định an chỉ (appanà). Nếu định này đạt được do ly dục ly bất thiện pháp một cách tự nhiên vô ngã thì đó là chánh định. Nhưng nếu đạt được do tham muốn sở đắc và ý chí dụng công của bản ngã thì vẫn là ngoại định (nói ngoại định tức không phải chánh định nhưng vẫn có thể tốt nên không nói là tà định).
Khi hành giả trở về trọn vẹn soi sáng một cách trực tiếp, khách quan và trung thực toàn bộ động thái thở vô thở ra đang diễn tiến trên thân tự nhiên như nó là, không sắp đặt, không qua khái niệm chế định về hơi thở (như định dạng ở mũi hay ở bụng v.v...) thì người đó đang thực hành minh sát tuệ (vipassanà). Trong tuệ minh sát, sự trở về trọn vẹn soi sáng động thái thở tự nhiên này được gọi là tinh tấn (àtàpì), chánh niệm (satimà), tỉnh giác (sampajàna), trong đó không có tham ưu (abhijjhà domanassa), không nương tựa (anissito), không bám víu bất kỳ điều gì (na kiñci upadiyati) do đó không có sở đắc mà chỉ có thấy ra bản chất sinh diệt tự nhiên của toàn bộ động thái thở vô thở ra đang diễn tiến trên thân như nó là.