Kính thưa Thầy, trong quyển 'Thiền Phật giáo Nguyên Thuỷ và Phát triển' ở phần đầu Thầy viết về thiền định, phần sau là thiền tuệ. Phần thiền tuệ thì con biết cách ứng dụng bằng tánh biết để tu như lời Thầy dạy, nhưng phần thiền định thì con chưa biết ứng dụng làm sao, vì nếu con dùng để mục để quán thì trong con đã xác định mục đích như là đạt được quang tướng, tứ thiền bát định rồi. Có phải phần thiền định chỉ dùng cho những ai còn nhiều tham muốn tu tập tạm thời để dễ đoạn trừ như dùng đề mục quán tử thi, sau đó phải chuyển qua tu tập thiền tuệ đúng hướng phát triển tự nhiên phải không Thầy? Hay là trong Phật giáo tuy liệt kê ra thiền định và tuệ nhưng cách ứng dụng tu tập vẫn là thiền tuệ phát triển chánh định tự nhiên. Vì con muốn dùng pháp quán 32 thể trược thuộc thiền định nhưng lại băn khoăn là quán như vậy thì trái với cách tu trong sáng, định tĩnh, trong lành rồi. Kính mong Thầy chỉ dạy cho con.
Tuy là nói thiền tuệ để phân biệt với thiền định ngoài đạo Phật, nhưng thực ra trong thiền tuệ đã có chánh định rồi. Nếu con tu đúng thiền tuệ thì giới định tuệ đều được phát huy viên mãn. Những người ngoại đạo trước đây đã có tu tứ thiền bát định khi theo Phật thì họ vẫn được giữ các mức định này nhưng không được đắm chìm trong hỷ lạc và các loại thần lực. Chính thiền tuệ giúp họ chuyển hóa các định đó thành chánh định trong giới định tuệ, vì có chánh định thì có trí tuệ, còn tứ thiền bát định vẫn còn trong vô minh ái dục nên thường chỉ cản trở trí tuệ mà thôi. Vì vậy chấp định, chấp không thì vẫn còn nương tựa (nissita), còn bám víu (upadāna) vào sinh, hữu, tác, thành không phải là con đường xả ly, ly tham, đoạn diệt trong không, vô tướng, vô tác, vô cầu.
Đức Phật dạy tâm vốn rỗng lặng trong sáng (pabhassara citta), còn các phiền não tham sân si chỉ là khách vãng lai (āgantuka). Thầy phát hiện tâm rỗng lặng trong sáng ấy vốn tự có 3 yếu tố là sáng suốt, định tĩnh, trong lành. Sáng suốt là tuệ, định tĩnh là định, trong lành là giới, nên có thể gọi đó là giới định tuệ tự tánh, vốn vô ngã tức không sinh, không hữu, không tác, không thành. Nên nếu biết buông xả (10 pháp ba-la-mật đều là buông xả), bớt tích lũy, thì khách phiền não (āgantuka) sẽ không lui tới và thân tự giới, tâm tự định, tuệ tự chiếu. Nếu tâm thường buông lung, thất niệm, mất tỉnh giác, ngay đó chỉ cần trở về (tinh tấn) trọn vẹn (chánh niệm) trong sáng (tỉnh giác) với thực tại thân-tâm-cảnh thì liền phục hồi tự tánh giới định tuệ. Hoặc thận trọng, chú tâm, quan sát để tâm bớt phan duyên theo ngoại cảnh. Đó là cách tu phát huy giới định tuệ tự nhiên nhất đúng như tâm nguyện của con mà không cần đi theo con đường tứ thiền bát định, mất thì giờ vô ích.
Còn nếu con muốn quán 32 thể trược là pháp đối trị lòng tham ái nơi cái gọi là "thân này của tôi" hay "thân kia xinh đẹp" thì cũng tốt, nhưng phải quán trên 32 thể trược thật chứ không tưởng tượng thì cũng chính là thiền tuệ.