Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

Thiền

329 câu · trang 5/110

Thưa thầy, thầy dạy thiền trong mọi sinh hoạt đời sống, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, chứ không giới hạn ỏ hình thức ngồi thiền. Nếu vậy tại chùa Bửu Long có thời khóa ngồi thiền không? Cách thực tập thế nào? Con chưa được biết, xin thầy chỉ dạy.

Hiện nay chùa đang xây tháp nên chỉ có ngồi thiền sau thời kinh sáng và tối thôi. Vào 3 tháng An Cư Kiết Hạ thường chư Tăng, Tu nữ và Phật tử tùng hạ có thời khóa ngồi thiền nhiều hơn. Thực ra, ngồi hay không ngồi không quan trọng, vì trong đời sống hàng ngày thì lục căn tiếp xúc với lục trần, khi ngồi thiền thì cũng vẫn lục căn tiếp xúc với lục trần không khác, chỉ có khác là trong điều kiện động hay tĩnh mà thôi. Trọng điểm của thiền là chánh niệm tỉnh giác đối với thân thọ tâm pháp, nghĩa là tâm thường sáng suốt, định tĩnh, trong lành trong quan hệ căn - trần - thức. Do đó trong thiền Tứ Niệm Xứ, riêng niệm thân thì đối tượng là đi, đứng, ngồi, nằm hay tất cả sự đều được chứ không giới hạn trong hình thức ngồi mới gọi là thiền như nhiều người hiểu lầm. Nếu ai hợp với ngồi thì cứ ngồi, nhưng quan trọng là có thật sự chánh niệm tỉnh giác hay không, hay ngồi chỉ để mong cầu sở đắc (tham), chống lại tình trạng không vừa ý (sân), khiến tâm phân vân bất định (nghi), rồi lại cố kìm chế tâm làm cho nó bị dồn nén và rơi vào vọng mống lung tung (trạo hối) cho đến khi mệt mỏi sinh ra lười chán (hôn trầm thụy miên). Ngồi thiền như vậy chỉ tạo thêm chướng ngại, chi bằng đi làm việc gì đó với tâm vị tha rồi ngay đó mà chánh niệm tỉnh giác thì tốt hơn nhiều.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Đầu tiên con xin cám ơn Thầy về thư trả lời của Thầy.

Con xin có hai câu hỏi liên quan đến pháp hành kính mong Thầy rộng lòng từ bi giảng giải.

  • Câu hỏi 1: Liên quan đến khái niệm về một vị thầy.

Trong hầu hết các tài liệu mà con đã đọc nói về thiền trong Phật giáo, kể cả Thiền tông, Mật tông, và thiền Nguyên thủy đều nhấn mạnh đến vai trò của một vị thầy, xem đó như là một điều kiện tiên quyết cho một người muốn dấn thân vào con đường tu thiền. Điều này đã gây không ít bối rối cho các hành giả cư sĩ tại gia, mặc dù họ có thể tiếp cận được các nguồn kinh sách thông qua mạng lưới thông tin hiện đại như ngày nay, hoặc được nghe các bài pháp thoại từ các giảng sư giàu kinh nghiệm (ví dụ như mạng Trung Tâm Hộ Tông chẳng hạn). Thật ra, trong giới cư sĩ cũng có người được trang bị một trình độ học vấn nhất định, giúp họ có được phương pháp luận khoa học khi tiếp cận vấn đề. Bản thân con mặc dù không trực tiếp được Thầy hướng dẫn nhưng thông qua mạng Internet con cũng tiếp thu được cơ bản nội dung pháp hành mà Thầy muốn truyền đạt. Các thắc mắc cũng đã được Thầy tận tình giúp đỡ tháo gỡ. Như vậy bản thân con xem như đã có một vị thầy chưa? Kính mong Thầy rộng lòng từ bi giảng giải. Việc kề cận một vị thầy còn mang một ý nghĩa tâm linh nào khác nữa không?

  • Câu hỏi 2: Liên quan đến cái đau trong hành thiền.

Các thiền sư thường có lối giải thích và cách thức xử lý cơn đau trong lúc tọa thiền rất khác nhau. Bản thân con thì thích vận dụng theo lối tư duy “minh” và “vô minh" của Thầy để giải quyết vấn đề này. Cụ thể như vầy:

  • Minh:

(1) Ngồi lâu thì phải đau (qui luật nguyên nhân – kết quả). Không có một tư thế hay oai nghi nào của con người mà không dẫn tới đau khổ, cho dù đó là một tư thế nằm thoải mái nhưng trước sau gì rồi cũng phải thay đổi huống hồ chi là ngồi lâu.

(2) Nhờ tư duy như trên nên tâm ít phản ứng hơn với cơn đau, điều này giúp cho thân tâm dễ kham nhẫn hơn.

(3) Cơn đau là một sự thật (chân đế) nó nằm trong bốn xứ (Thọ) để cho hành giả quán niệm nên không cần thiết phải dùng bất kỳ một phương pháp “Tự kỷ áp thị” nào để quên nó đi.

(4) Khi cơn đau tới hạn chịu đựng thì cứ tại đây, bây giờ thay đổi tư thế (trong thận trọng chú tâm quan sát) mà không một chút lo lắng vì sợ mất “định” .

(5) Thời gian từ lúc ngồi cho tới lúc đau là bao lâu không trọng, vì cơ địa mỗi ngưới khác nhau, ngay cả trong một con người do bị chi phối bởi luật vô thường nên thời gian dẫn tới cơn đau mỗi lúc mỗi nơi cũng khác nhau. Việc ngồi rất lâu mới thấy đau chẳng nói lên một thành tựu nào về giải thoát, mà đó chẳng qua là sự thích nghi của cơ thể theo cơ chế phản xạ có điều kiện.

(6) Con rất thấm thía câu nói của Thầy “Đừng biến hành thiền thành hành khổ”

(7) Đau đớn và an lạc đều là pháp nên tâm quan sát phải bình đẳng. Điều này giúp cho hành giả tiến gần hơn với tâm buông bỏ, xả ly.

  • Vô minh:

(1) Đẩy cao cái ngưỡng chịu đựng cơn đau rồi xem đó như một thành tựu thì đó chẳng qua là biểu hiện của tự ngã.

(2) Ở trình độ thấp kém này mà muốn thấy được sự sanh diệt trong từng sát-na của cơn đau như có thiền sư từng giải thích thì vô minh.

(3) Khi tâm quan sát không còn rỗng lặng trong sáng mà cứ muốn tiếp tục quan sát cơn đau trước sau gì cũng dẫn tới tham sân.

Con hiểu như vậy thưa thầy có đúng không? Kính mong Thầy rộng lòng từ bi giảng giải. Con xin cám ơn Thầy.

  1. Ngày xưa chưa có phương tiện truyền thông nào khác ngoài phải đi, nhiều khi rất xa, để tìm thầy học Đạo, hoặc ít nhất cũng đi hành cước để tham vấn xem sở tu sở chứng của mình đã thuận Pháp chưa. Ngày nay vai trò vị thầy chính là những nguồn thông tin giúp mình học Đạo, như kinh điển, pháp thoại audio, video v.v... Và để kiểm tra sở tu sở chứng của mình thì có thể gặp thầy qua điện thoại, internet có gắn camera là thầy trò có thể đối diện trình thiền hỏi Pháp thoải mái. Vậy không tiện hơn sao? Tin, học và hành theo một vị thầy có thể sai, lại phải đi tìm vị khác xa xôi, chi bằng cứ nghiên cứu học hỏi cho sâu rộng rồi khi đã có đủ trình độ nhận thức mới thấy vị thầy nào hay cứ đến tham vấn. Quan trọng là khai mở, giác ngộ, chứ không phải là hành theo vị thầy nào. Các vị Phật Độc Giác không học ai cũng vẫn tự mình giác ngộ thì có sao đâu. Tất nhiên vai trò vị thầy theo nghĩa rộng, hoặc thiện bằng hữu, thiện trí thức là những sự hỗ trợ rất cần thiết trên đường học Đạo. Nhưng cuối cùng vô sư trí vẫn là vị thầy tối hậu của mỗi người. Đức Phật đã xác định là sau khi Như Lai viên tịch Tứ Chúng nên nương tựa vào Pháp chứ không nên nương tựa vào vị thầy nào. Pháp (thực tánh) sẵn có nơi mỗi người, hãy quay lại mà thấy (Ehipassiko), không phải tìm đâu xa, không do vị thầy nào ban tặng. Cho nên Đức Phật mới dạy "Tự mình là nơi nương nhờ của chính mình, không ai khác là nơi nương nhờ được" (Attàhi attano nàtho, ko hi nàtho parosiyà).

  2. Những điều anh nhận thức trong câu hỏi 2 đều đúng, nếu như đó không phải phát xuất lý luận thuần lý trí mà từ thấy biết qua trải nghiệm thật sự trên thực kiện. Chúc mừng anh.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính bạch Thầy, đầu tiên con kính chúc Thầy sức khoẻ. Con xin phép được hỏi Thầy một câu hỏi. Con có nghe nhiều người nói về Thiền và Yoga. Có người nói rằng Yoga bao quát hơn Thiền, thiền có trong Yoga. Vậy nói rằng Yoga bao quát hơn thiền có đúng không ạ? Xin Thầy chỉ cho con để con có thể hiểu rõ thêm về sự khác nhau giữa thiền và yoga cũng như mục đích của nó.

Con xin cảm ơn Thầy.

Cái này thì khó nói lắm, bởi khi so sánh là đã rơi vào khái niệm rồi, mà khái niệm thuộc tục đế, do quy ước của cá nhân hay xã hội thế gian. Khái niệm quy ước là gán cho cái gì đó một ý nghĩa mà người ta "nghĩ" là thế, chứ chưa hẳn là thế! Cho nên có "tôi nghĩ thế" hay "tôi cho là thế". Ở đời ai mà chả quy ước cho cái của mình là đúng là hay hơn của người khác. Nhưng luật tục đế muôn đời vẫn là: "Lý của kẻ mạnh luôn luôn thắng", vì vậy trong thế gian này, nếu kẻ mạnh nói họ đúng hơn thì tốt nhất là đừng cãi lại, còn nếu kẻ yếu nói thì mỉm cười là đủ rồi, hơi đâu mà tranh chấp hơn thua, bởi giữa đời này hơn thua không nói lên được sự thật như nó đang là. Khổ một nỗi bản chất thật của pháp thì vượt ngoài khái niệm sai - đúng, hơn - thua, làm sao mà so sánh được đây?

Do vậy, đức Phật mới dạy trong kinh Kalama là hãy cứ thực nghiệm đi rồi biết thực sự nó ra sao chứ không nên "tin là...", "cho là...", "nghĩ là..." Vậy thực nghiệm để biết gì? Để biết rằng: Điều này là tạo tác của bản ngã tham sân si (Tập đế) đưa đến sầu-bi-khổ-ưu-não (Khổ đế), điều này là chánh trí không do bản ngã tham sân si tạo tác (Đạo đế) nên không còn sầu-bi-khổ-ưu-não (Diệt đế: Tịch tịnh Niết-bàn, Không, Vô tướng, vô tác, vô nguyện). Do đó pháp này thuộc chân đế, được các bậc Thánh goi là pháp VÔ TỶ, không thể nào so sánh được. Vậy con nói làm thế nào mà thầy so sánh với cái gì được đây?

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.