Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

tinh tấn chánh niệm tỉnh giác

540 câu · trang 9/180

Kính bạch thầy, trong lòng con luôn luôn muốn kiềm chế những hỷ nộ của cuộc sống như khi những người thân gây ra lỗi lầm... Trong Kinh Pháp Cú nói là chỉ biết nghe thôi chứ đừng giữ lại, nhưng thưa thầy, khi con nghe những gì nghịch ý thì hầu như là con phản ứng lại liền, không kiềm chế được. Khi nghe ai nói gì thì con hay nghiền ngẫm, suy nghĩ rồi suy diễn lung tung, vậy làm sao con giữ được cái tâm an lạc? Xin thầy cho con biết làm cách nào để diệt được sân si, khỏi phiền não và thân tâm an lạc? Con xin cám ơn thầy.

Muốn kiềm chế tâm sân cũng là tâm sân, muốn an lạc lại rơi vào tâm tham. Hết sân đến tham tức là si. Đó là thái độ phản ứng của cái ta vô minh ái dục. Ái dục gồm có: sân với quá khứ (phi hữu ái), tham với tương lai (hữu ái) và si với hiện tại (dục ái). Cả ba đều là thuộc tính của cái ta ảo tưởng. Con nghe ai nói hay làm gì sai quấy thì nổi sân, thực ra chuyện đó đã trôi qua nên sân chỉ là sân với quá khứ. Con lại muốn được an lạc, dĩ nhiên vì nó chưa có, nên con chỉ tham cái ở tương lai. Hiện tại con bị chìm đắm trong màu sắc, âm thanh... tức là si mê trong ảo tướng. Nghĩa là con đánh mất sự sống đích thực trong thực tại ở đây và bây giờ.

Vậy nguyên nhân là con không thấy ra bản chất thật của thực tại như nó là (thấy thực tánh pháp). Đó là lý do tại sao Kinh Pháp cú dạy chỉ thấy, nghe... như thực thôi, không gia thêm ý muốn chủ quan loại trừ hay nắm giữ. Nghĩa là thấy sao thấy vậy, nghe sao nghe vậy..., không tham ưu (abhijjha-adomanassa), không nương tựa (anissito), không chấp trước điều gì trên đời (natthi loke upàdiyati). Do đó. đơn giản là khi tụng kinh trọn vẹn với tụng kinh, khi niệm Phật, khi ăn uống, khi đi đứng ngồi nằm v.v... đều sáng suốt trọn vẹn với thực tại thì làm sao tham sân, chấp trước, dính mắc khởi lên được! Chỉ tại con không sống trọn ven với thực tại để thấy ra chính mình thôi.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính thưa Thầy!

  1. Con nhận thấy trạng thái tâm của mình cũng ảnh hưởng đến tư thế nằm ngủ và ngược lại. Nếu trước khi ngủ con nằm yên, để tâm vào hơi thở nơi bụng hay duy trì chánh niệm tốt trên thân thọ của mình thì thường hôm sau con dậy đúng giờ, khỏe khoắn hơn, sáng ngồi thiền tốt hơn, thậm chí nếu cần dậy sớm vào sáng hôm sau thì khi đi ngủ con thầm dặn trong tâm là giờ đó phải dậy thì đến giờ là tự nhiên con bật dậy. Thưa Thầy con làm như vậy có đúng không?

  2. Duy trì chánh niệm là chỉ cần kéo tâm "trở lại chính mình" là được, chứ không cần tầm tứ phải không thưa Thầy?

Con kính chúc Thầy an lạc. Con cám ơn Thầy.

  1. Tất nhiên nếu có chánh niệm thì việc ngủ và thức sẽ chính xác hơn, do đó có thể "cài" đồng hồ sinh học đúng giờ được, không có gì sai.

  2. Không phải "kéo" tâm trở lại chính mình mà là tâm hướng về thực tại thân tâm, đó là động thái chánh niệm tỉnh giác chứ không phải tầm tứ như trong thiền định.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Kính bạch sư, lúc đầu khi con hành pháp buông là nhờ giác ngộ được dục ái, hữu áiphi hữu ái trong lần sư giảng ở Melbourne. Và cũng vì 8 năm trước đó con lăng xăng hành theo những pháp môn phương tiện, càng hành thì càng tự làm khổ mình, làm khổ người. Lấy bản ngã hành nên con dở sống, dở chết mà vẫn cố bám víu vì tưởng dụng công chưa thuần thục nên khi sư giảng buông là con thấy ngay lập tức. Con thấy tâm an tịnh mở ra một lối thoát như vớ được chiếc phao trên biển cả. Con tác ý buông khi thấy tâm khởi lên 3 ái này. Bước đầu tập ghi nhớ tác ý buông, con thấy tâm nhẹ nhàng bớt dính mắc. Dần dà thì con thấy nhờ buông mà tánh biết sẵn có hiển lộ ghi nhận thân thọ tâm pháp một cách trung thực. Con vẫn tác ý buông cả trong những lúc tánh biết ghi nhận kiết sử của bản ngã từ trong vô thức, nếu thấy bị dính mắc vào 3 ái trên. Vì con đã quen tác ý trong tâm và thấy rõ bản ngã, ảo tưởng... mà không lầm, nên con chỉ tác ý buông và càng buông thì ghi nhận các pháp vận hành càng rõ ràng. Con hành vậy có đúng không ạ, xin sư chỉ dạy thêm cho con. Con xin cám ơn sư.

Trước hết thầy muốn xác định lại từ tác ý con dùng trong câu hỏi có nghĩa gì. TÁC Ý là cetasikà có nghĩa là tâm hướng đúng hay sai trên đối tượng, thường bị dùng nhầm lẫn với TƯ TÁC cetanà là chủ ý thiện, bất thiện hay duy tác trên đối tượng. Nếu từ tác ý con dùng có nghĩa là hướng tâm đúng thì con chỉ thấy 3 ái như thực tánh cúa chúng và chỉ thấy chúng tự sinh tự diệt chứ không cần có chủ ý buông. Còn nếu ý con muốn nói là con có chủ ý buông 3 ái xuống thì đó là tư tác thiện mang tính tinh tấn kiểu thiền định hơn là thiền tuệ, nên khi buông 3 trạng thái ái ấy con thấy tâm nhẹ nhàng, bớt dính mắc (vào trần cảnh) và ổn định hơn. Bước đầu như vậy cũng tốt, nhờ vậy “...con vẫn tác ý buông và càng buông thì ghi nhận các pháp vận hành càng rõ ràng”. Tuy nhiên, đó là sự rõ ràng nhờ yếu tố định hơn là sự rõ ràng của yếu tố tuệ Vipassanà.

Vấn đề then chốt ở chỗ là thái độ có chủ ý buông 3 ái hay buông thái độ có chủ ý ấy để tánh biết thấy rõ bản chất sinh diệt trung thực của 3 ái một cách tự nhiên. Điều này rất vi tế, rất khó thấy ra. Lúc đầu thấy ái liền khởi ý buông ái đó, nhưng về sau thấy ái mà tánh thấy không phản ứng, không can thiệp, không phê phán, không kiểm duyệt, không tạo tác... thì ái tự buông chứ không cần có chủ ý buông. Như vậy là buông thái độ hữu vi hữu ngã trong thấy biết thì thấy biết rỗng lặng trong sáng (Tri kiến thanh tịnh: không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vô vi, vô ngã...). Nhưng ngay khi nói buông thái độ hữu vi hữu ngã thì vẫn còn hữu vi hữu ngã vi tế. Cũng không sao, biết vậy là được, rồi có một lúc nào đó đầy đủ nhân duyên, cái ngã bỗng nhiên tự buông và ngay đó toàn bộ thực tánh pháp hiện ra trong tánh biết rỗng lặng trong sáng tự nhiên. Lúc đó mới thật sự gọi là tinh tấn - chánh niệm - tỉnh giác hay sáng suốt - định tĩnh - trong lành.

Vì vậy, có 4 loại tỉnh giác:

  1. Lợi ích tỉnh giác (Satthaka sampajaññā): Vì lợi ích mà tỉnh giác, tức tỉnh giác có mục đích diệt trừ các ái chẳng hạn.

  2. Thích ứng tỉnh giác (Sappāya sampajaññā): Tùy đối tượng đến đi mà tỉnh giác. Ví dụ, các ái khởi sinh và hoại diệt khi có sự tương giao căn-trần-thức liền tỉnh giác.

  3. Đương xứ tỉnh giác (Gocara sạmpajaññā): Bất cứ ở đâu và lúc nào cũng tỉnh giác. Dù có hay không có đối tượng trong giới hạn tương giao căn-trần-thức vẫn tỉnh giác.

  4. Bất muội tỉnh giác (Asammoha sampajaññā): Tánh biết rỗng lặng trong sáng, hay tâm sáng suốt, định tĩnh, trong lành tự nhiên không bị phiền não che lấp nên luôn tỉnh giác không mê muội.

Nói vậy để con thấy ra con đang chánh niệm tỉnh giác ở mức độ nào thôi, còn con vẫn cứ đang như thế nào thì biết như vậy rồi sẽ tự khám phá và tự động điều chỉnh nhận thức và hành xử đúng pháp. Con nhớ tóm tắt nguyên tắc của thiền Vipassanà là:

  1. Chỉ buông thái độ hữu vi hữu ngã đối với các ái thì các ái tự buông chứ không chủ động buông các ái.

  2. Tánh biết tự biết pháp và pháp tự vận hành chứ không có cái ta tu tập, phàn ứng, can thiệp, phê phán, kiểm duyệt, tạo tác... nên mới gọi là không, vô tướng, vô nguyện, vô hành, vô tác, vô vi...

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.