Kính thưa Thầy, xin Thầy cho con trình pháp:
Sau một thời gian dài quan sát, con chợt nhận ra những suy nghĩ về Pháp học cũng là vọng. Bỏ luôn vọng này thì có phải là chỗ Phật dạy: "Chánh Pháp còn phải bỏ huống chi phi pháp" đúng không Thầy? Nhiều lúc không có việc gì suy nghĩ, nhưng tâm luôn luôn khởi vọng, hết chuyện này đến chuyện khác, cũng chỉ là những chuyện hàng ngày mình gặp thôi. Ban đầu con còn bị nó lừa, bây giờ cũng còn, nhưng bắt đầu nhận ra được rồi Thầy ạ. Điều này làm con liên tưởng đến từ Lậu Hoặc - tâm liên tục tiết ra tư tưởng, suy nghĩ, cảm xúc... và nếu mình chấp đó là thật, nó liền quay trở lại ràng buộc mình, bắt mình hành động và suy nghĩ theo nó, hình thành nên các Kiết Sử, kéo dẫn chúng sinh trong cõi luân hồi.
Vậy nhìn tổng quát thì tất cả chúng sinh đều đang bị điều kiện hóa và bị chi phối như những con rối bởi các Lậu Hoặc và Kiết Sử này, và tất cả những điều này chính là điều được gọi là Nghiệp, đúng không Thầy?
Thấy và nghĩ đến đó làm con thấy rất xúc động và có vẻ như những điều Đức Phật giảng dù rất khó hiểu, khó tin, nhưng đều là sự thật.
Con đọc đi đọc lại vài lần về "16 tuệ minh sát", nhưng con không thể xác định được mình đang ở giai đoạn nào. Thưa Thầy, mình cứ sống bình thường rồi khi nào "đến" sẽ biết vậy có được không?
Con xin trình pháp với Thầy như vậy. Nếu cái thấy và suy nghĩ của con còn chỗ nào sai, xin Thầy chỉ giúp cho con để con tiến tu. Con xin cám ơn Thầy và kính chúc Thầy an lạc.
Có quan sát nên con đang thấy ra dần cơ cấu hoạt động của sự tương quan giữa thân tâm và cảnh, thấy ra dần những che lấp, trói buộc của những ảo tưởng, vọng tâm. Hành động quan sát phải thật sự tự nhiên, vô tâm và giản dị thì mới thấy ra bản chất thật của pháp. Từ chánh pháp ở đây ám chỉ giáo pháp chân chính, nhưng dù chân chính đến đâu thì giáo pháp vẫn là phương tiện ngôn ngữ chế định để chỉ bày thực tánh pháp chứ không phải là thực tánh chân đế tự nhiên. Khi quan sát trực tiếp thực tại thân-tâm-cảnh thì ngôn từ trong pháp học dù đúng đắn tới đâu cũng phải bỏ mới thấy được thực tánh chân đế. Nếu không loại được ngôn ngữ chế định thì cái gọi là chánh pháp cũng thành độc hại, giống như dù thức ăn bổ dưỡng cách mấy mà không tiêu hóa thì vẫn sinh bệnh.
Có hai loại vọng tâm: Một là tập khí tồn động trong vô thức, khởi lên dưới hình thức vô nhân dị thục mà phân tâm học gọi là các khuynh hướng xung động. Chúng tự khởi lao xao, có khi bức xúc nhưng không tạo tác vì là những trạng thái hậu quả vô nhân. Nếu chạy theo chúng hay bị chúng sai sử, chi phối - do ưa thích hay sợ hãi - thì mới sinh ra tạo tác vọng nghiệp, còn nếu sáng suốt quan sát chúng thì chúng dễ dàng tan biến hoặc không gây ảnh hưởng gì cả. Hai là những thái độ tạo tác hữu nhân, đây mới là phản ứng tạo nghiệp. Những vọng khởi - sankhàra vô nhân - thường được tiếp sức bởi những phản ứng tạo tác - sankhàra hữu nhân, khi thiếu thiếu chánh niệm tỉnh giác, nhưng khi có thận trọng chú tâm quan sát một cách trọn vẹn trong sáng thì cả hai đều bị hóa giải.
Phần nhiều "16 tuệ minh sát" được diễn giải bằng những khái niệm ngôn từ (danh khái niệm) qua lý trí của những người chưa thực chứng, nên đã bị "vẽ rắn thêm chân" không ít, do đó con đọc mà không tẩu hỏa nhập ma là may lắm rồi! Thực ra những tuệ này rất đơn giản, chỉ vì người ta gán ghép vào quá nhiều khái niệm và quan niệm không xác thực khiến người đọc (hoặc nghe) tưởng quá cao xa không với tới được. Thực tế là nó nằm ngay trước mắt mà cứ kiếm tìm trong ảo tưởng xa vời, như tự vẽ ra diện mạo người trong mộng rồi đem đi tìm người thực vậy. Các tuệ tự đến khi tâm an nhiên trong sáng và nó bình dị đến độ con chỉ thấy và mỉm cười thôi, chứ không lời nào tả được. Nhiều người cũng tưởng đã thực chứng nhưng thật ra đã bị đánh lừa bởi những khái niệm biết trước từ kiến thức pháp học. Chỉ khi nào bặt dứt mọi khái niệm ngôn ngữ và mọi ý niệm tâm hành thì tuệ giác liền đến một cách rất tự nhiên, mà không cần đối chiếu với bất kỳ khuôn mẫu chế định nào.
Trao đổi
Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.