Thầy kính,
Con đã đọc nhiều lần 2 cuốn sách Thầy viết “Sống Trong Thực Tại” và “Thực Tại Hiện Tiền”, con thấy trân quý và biết ơn Thầy vô cùng. Con mới bước vào tu học mấy năm nay nên sự hiểu biết và trải nghiệm còn rất hạn chế. Con mong Thầy giải thích thêm cho con về chức năng và sự vận hành của Chánh Niệm và của Ý thức.
Trước nay con vẫn hiểu Chánh niệm là Ý thức, nay con đọc lại đoạn dưới đây Thầy dạy Chánh Niệm và Tỉnh Giác luôn đi cùng nhau và Tỉnh giác không chỉ giới hạn trong phạm vi Ý thức. Như vậy con hiểu trạng thái Chánh Niệm và Tỉnh Giác là tâm buông xả, không còn phân biệt chủ thể và đối tượng nhận thức, không cần tập chú (trụ) vào cụ thể một đối tượng nào có đúng không ạ? Còn khi ý thức một đối tượng nào thì tâm ta vẫn còn phân biệt có đúng không ạ? Phân biệt với trạng thái vô thức thì thế nào ạ?
Con kính mong Thầy chỉ dạy và dẫn ra ví dụ trải nghiệm nào đó để con được hiểu rõ hơn và có thể tự quan sát thực chứng được. Con cảm ơn Thầy nhiều ạ
Con, Hoàng Lan
“Bạn cần lưu ý là hai yếu tố chánh niệm và tỉnh giác không thể tách rời nhau trong thiền Vipassanā, nên nhiều người cho rằng hai yếu tố này không có gì khác biệt. Thực ra, tuy chúng hỗ trợ cho nhau và có chung một đối tượng thực tánh, nhưng có đặc tính và chức năng hoàn toàn riêng biệt. Chánh niệm là tâm trọn vẹn với đối tượng thực tại (không còn năng sở), trong khi tỉnh giác thấy biết đối tượng ấy một cách trung thực và trong sáng (không còn tư niệm). Như một tấm gương, hướng vào đối tượng đủ vững vàng và trọn vẹn, thì lập tức phản ánh rõ ràng trung thực đối tượng ấy. Tấm gương quay qua hướng khác ví như thất niệm, tấm gương bị rung động ví như tạp niệm, và mặt gương không bằng phẳng ví như vọng niệm, thì không thể soi thấy vật gì rõ ràng trung thực được. Cũng vậy, tâm thiếu chánh niệm sẽ không có tỉnh giác để soi chiếu đối tượng đúng với thực tánh của nó.”
“Nhiều người nhầm lẫn thái độ tỉnh giác với trạng thái ý thức, vì vậy đã đề cao vai trò của ý thức trong việc hành thiền! Thậm chí còn cố gắng giữ ý thức liên tục mà họ cho như vậy là miên mật! Ý thức chỉ là một tâm sinh diệt theo đối tượng của nó, nghĩa là khi có đối tượng thì nó sinh, khi không có đối tượng thì nó diệt. Vì lệ thuộc vào đối tượng như vậy nên đưa đến quan niệm sai lầm thứ hai là quá xem trọng đối tượng đến nỗi nếu không có thì phải dựng lên đối tượng để nuôi dưỡng sự liên tục của ý thức, nhưng thực ra sự miên mật đó chỉ là nỗ lực kéo dài sự tồn tại của cái ta ảo tưởng mà thôi.
Tỉnh giác là phẩm chất của tánh biết rỗng lặng trong sáng, nó có khả năng thấy được hoạt động của ý thức – thấy được sự sinh diệt của tâm ý thức đó. Chính vì thế mà Đức Phật dạy trong Kinh Tứ Niệm Xứ là có thể tỉnh giác trên thực tại thân, thọ, tâm và pháp mà không nương tựa, không dính mắc vào pháp nào. Vi tế hơn nữa là thấy được trạng thái tâm ngay khi nó khởi lên trên một đối tượng nào đó. Ví dụ, khi thấy một đóa hoa, tâm ưa thích khởi lên, nhưng ý thức của bạn bị thu hút vào màu sắc, hình dáng, hương thơm của đóa hoa, nên không ý thức được chính mình, nhưng tỉnh giác lại thấy được toàn bộ diễn biến khi tâm ưa thích của bạn đã khởi lên rồi diệt đi lúc nào và như thế nào, nếu không làm sao thấy được tính chất vô thường, vô ngã của tâm. Cũng vậy, đối với những trạng thái tâm khác như từ ái hay hận thù, ổn định hay tán loạn, trói buộc hay thanh thoát, vướng mắc hay tự tại v.v... tỉnh giác đều thấy biết như một tấm gương phản ánh trung thực, không xen vào đó bất cứ phản ứng tâm lý chủ quan nào. Ý thức có thể bị bản ngã xen vào chấp là ta và của ta, còn tỉnh giác thì cái ta không thể chấp thủ được, đơn giản chỉ vì tỉnh giác thấy được các pháp là vô ngã. Nói cách khác, khi vắng bóng cái ta ảo tưởng thì mới thật sự có tỉnh giác.
Tóm lại, tỉnh giác không bị giới hạn trong phạm vi ý thức, ngược lại chính nhờ tỉnh giác mà nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức mới thấy như thực, nghe như thực, giác như thực, tri như thực. Kiến văn giác tri hoàn toàn trung thực được gọi là tri kiến thanh tịnh.”
Con hiểu đúng và đoạn con trích dẫn đã rõ không cần giải thích gì nữa, con trải nghiệm rồi sẽ tự thấy. Tánh biết thì không muốn biết cũng biết, còn ý thức thì phải muốn biết mới biết. Khi tự nhiên, không cố ý dụng tâm, không dính mắc điều gì thì tâm rất sáng, dù ý thức ở trạng thái vô thức, thì tánh biết vẫn biết, như trường hợp linh tri, thần giao cách cảm hay biết trước một việc xảy ra chẳng hạn.