Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

tưởng tri, thức tri & tuệ tri

74 câu · trang 5/25

Con xin thành tâm sám hối trước Thầy vì hí luận nhiều quá. Ý của con là như vầy Thầy ạ: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều sinh diệt không ngừng, khi thân hoại mạng chung thì mọi thứ đều đi con đường của nó, nói diệt cũng đúng mà nói sinh cũng đúng ví dụ như Sắc, tánh vẫn là tứ đại chẳng sinh chẳng diệt, tướng thì thay đổi (chuyển) thành con giun chẳng hạn, cái này con cũng hiểu, cũng như thế đối với Thọ, Hành, Thức con cũng hiểu! Nhưng với Tưởng (trí nhớ) thì con không biết nó chuyển thành cái gì? Rõ ràng kiếp trước học toán rất giỏi, thuộc nhiều áng văn thơ, khi chuyển kiếp bị (xóa) luôn như là format bộ nhớ của computer vậy!

Và nếu ngồi một mình, thư giãn, buông xả suy ngẫm những thứ như trên thì có gọi là quán Pháp không ạ?

Một lần nữa con sám hối trước Thầy!

Tưởng không phải là trí nhớ mà là nhận biết "tướng" hoặc "tượng" của đối cảnh qua khái niệm nên mới gọi là tưởng tri. Khác với thức tri, trong đó có cái biết của ngũ thức chưa qua khái niệm và cái biết của ý thức phải lấy thông tin của tưởng để tạo hoặc tái tạo khái niệm rồi tư tưởng và hình thành quan niệm. Vì tưởng chứa đựng khái niệm nên phải "nhớ lại" mà gọi là hồi tưởng (khái niệm quá khứ), nhưng nó cũng "dự phóng" nên gọi là tưởng tượng (khái niệm tương lai). Vì vậy tưởng chuyển thành "tướng" hoặc "tượng" nên gọi là tướng do tưởng sinh.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa sư. Con nghiệm điều nào nên cho lọt qua 5 giác quan, điều nào không.

Khi tiếp xúc với thế giới, trần cảnh, thì việc nghĩ rằng đó là thường, là lạc, là ngã của ta là điều không nên, phải bỏ qua. Vì nó sẽ sinh ra hữu, bám víu, đau khổ kèm theo sau.

Khi tiếp xúc với thế giới, trần cảnh, thì việc nghĩ rằng đó là vô thường, là khổ, là vô ngã. Những thứ này không nên dính mắc, vì không dính mắc, không chối bỏ nên tâm buông dần khổ đau.

Mong sư từ bi giảng dạy về những ý kiến trên. Dù biết rằng sự bình yên không thể đạt được bằng lý luận, song con nghĩ như lý tác ý thật sự rất quan trọng.

Con kính tri ân sư.

Nghĩ vậy cũng tốt, nhưng điều này phải thực thấy mới đúng còn suy nghĩ đôi lúc chỉ là lý luận của lý trí (tưởng tri, thức tri) chứ chưa phải thực chứng (tuệ tri, liễu tri). Tự thân trải nghiệm, chiêm nghiệm sự thật thì mới thân chứng bản chất thật của pháp. Nghĩ là vô thường, khổ, vô ngã hoặc thường, lạc ngã thì đều rơi vào khái niệm của lý trí, vọng thức mà thôi.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Ta nhận biết là hành động dựa trên kiến thức, kinh nghiệm quá khứ! Sự nhận biết không là hành động, do vậy nhận biết ngay nơi đối tượng không qua ngôn ngữ. Và Ta nhận biết và sự nhận biết là "hành động của suy nghĩ". Thưa Thầy con chưa thật rõ điều nầy, kính mong Thầy soi sáng.

Con chưa thật rõ điều này có lẽ vì con chưa thấy sự khác biệt giữa những từ "hành động" và "tạo tác", "nhận biết" và "suy nghĩ". Nhận biết có thể là hành động tạo tác, có thể là hành động phi tạo tác tùy theo cách nhận biết dưới đây:

  • Nhận biết qua thức tri của trực giác giác quan (5 căn thức): Chỉ hành động đơn thuần không tạo tác.

  • Nhận biết qua thức tri của trực giác ý thức (chưa có khái niệm): Cũng chỉ hành động thuần túy, không tạo tác.

  • Nhận biết qua thức tri của kiến thức, kinh nghiệm (đã có khái niệm hình ảnh và ngôn từ): Hành động có tạo tác của ý thức.

  • Nhận biết qua tưởng tri của tư tưởng, hồi tưởng, tưởng tượng (đã có khái niệm ý tượng và ý tưởng): Hành động không tạo tác của ý giới và có tạo tác của ý thức giới.

  • Nhận biết qua tuệ tri của ý thức (có khái niệm nhưng không lệ thuộc khái niệm): Hành động có tạo tác thuộc ý thức.

  • Nhận biết qua tuệ tri của tánh biết (không có bất kỳ khái niệm nào): Hành động không tạo tác hoặc gọi là duy tác.

Như vậy nhận biết có suy nghĩ gọi là tư duy, nhận biết trực tiếp không qua tư duy gọi là tri kiến.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.