Tất cả chủ đề Hỏi Đáp

Tứ Niệm Xứ

98 câu · trang 14/33

Con thành kính đảnh lễ thầy.

Thưa thầy con xin trình pháp về thiền Tứ niệm xứ.

Thưa thầy bài trình pháp này của con viết ngày 16/08/2016. Con nhận ra được đây là kim chỉ nam cho cuộc sống của con trong đời này.

Mặc dù con đã làm rất nhiều chuyện trong cuộc sống nhưng cuối cùng cho dù thành công hay thất bại, hài lòng hay không hài lòng thì kết quả vẫn là sầu, bi, khổ ưu, não.

Chính vì vậy mà nội tâm con luôn đi tìm một con đường thật sự để sống đúng tốt và cuối cùng nhờ thầy mà con đã tìm ra. Thiền tứ niệm xứ chỉ đơn giản là trở về quan sát lại thân và tâm, quan sát lại các tình trạng cảm giác của thân và các tình trạng cảm xúc của tâm và đặc biệt là thái độ phản ứng nội tâm trước hoàn cảnh sống.

Thiền tứ niệm xứ bao gồm; niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Khi nắm vững nguyên lý và thực hành thiền tứ niệm xứ trong đời sống thì giá trị cốt lõi thiền tứ niệm xứ mang lại là phá đi bản ngã vô minh ái duc. Con người sở dĩ đau khổ chỉ đơn giản là do sống trong vô minh. Vô minh là không biết sự thật. Nếu biết sự thật và sống trong sự thật thì không có phiền não khổ đau. Vậy sự thật là gi? Sự thật là tất cả những gì khi lục căn tiếp xúc với lục trần mà không có cái bản ngã vô minh ái dục chen vào. Như vậy mỗi người đều đang sống trong một tình trạng ảo được kết thành từ những kinh nghiệm, khái niệm, quan điểm… biểu hiện dưới dạng cái “ta”. Phá đi cái ta trong từng hoạt động, trong từng suy nghĩ... thì đó cũng chính là phá đi bản ngã vô minh ái dục chi phối đời sống mỗi người. Phá đi cái ta tức là gỡ ra trói buộc do chính cái ta cột vào. Cột vào như thế nào thì gỡ ra cũng như vậy. Gỡ ra chỉ đơn giản là biết cái ta đã cột vào như thế nào, hậu quả ra sao. Chính vì vậy mà thầy đã dạy chúng con: Chỉ có sự giác ngộ trong tương giao, không có sự giác ngộ cá nhân.

Bản ngã vô minh ái dục hình thành từ đời sống, do đó cũng phải từ đời sống mà phá đi bản ngã vô minh ái dục. Niệm thân, niệm thọ, niệm tâm là giúp cho mỗi người biết trở về nhìn lại thân và tâm, hạn chế tình trạng tâm chạy ra bên ngoài dính mắc vào các đối tượng, hay đắm chìm trong quá khứ hay mộng tưởng tương lại. Niệm pháp là thấy ra trói buộc khi tương giao với hoàn cảnh sống. Thấy ra khổ chỉ là ảo, thấy ra nguyên nhân đưa đến đau khổ là hoạt động tạo tác của bản ngã trong tình trạng vô minh, tà kiến. Khi một tâm sinh lên có thể là do duyên bên ngoài tác động hay tự bên trong phát ra mà tâm ấy là phản ứng của bản ngã đầy chất trói buộc thì đó chính là luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau. Đạo đế chính là tuệ thấy được tâm sinh lên từ sự duyên khởi, thấy trói buộc từ tâm ấy đem đến… cũng tương đương với niệm pháp là con đường duy nhất để tháo gỡ những trói buộc hay phá ra bản ngả vô minh ái dục. Thưa thầy con tin là nếu sống như vậy thì giác ngộ giải thoát là tất yếu. Giá trị sống của con người trên cuộc sống này chỉ có vậy.

Con thành kính tri ân thầy và con chúc thầy luôn mạnh khoẻ. Con xin chào thầy.

Sàdhu lành thay!

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Bạch Sư, Sư dạy con mới tập tu nên xem kinh nguyên Thủy. Con muốn xem kinh tứ niệm xứ và học thiền mà Đức Phật dạy. Như vậy có được không? Mong Sư chỉ dạy cho con, ngoài pháp hành tứ niệm xứ con phải xem gì nữa. Con cám ơn Sư.

Về giáo lý cơ bản con nên đọc cuốn Đức Phật và Phật Pháp của Ngài Narada do ông Phạm Kim Khánh dịch. Sau đó con có thể nghiên cứu Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh v.v... đồng thời nghiên cứu Kinh Tứ Niệm Xứ để thực hành. Nên đi tham vấn nhiều vị tôn túc để học hỏi thêm.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.

Thưa Thầy,

Trong kinh tạng Pali, có đề cập đến việc Đức Phật sau khi rời bỏ việc tu thiền định khổ hạnh, nhớ đến việc ngồi thiền trong trong buổi lễ hạ điền. Ngài đã thực hành việc ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú thiền thứ nhất cho đến xả lạc xả khổ... chứng và trú thiền thứ tư. Giữa tu tập tứ thiền nói trên và tu tập thiền tứ niệm xứ có mối quan hệ như thế nào?

Kính xin Thầy giải thích. Kính chúc Thầy dồi dào sức khỏe!

Do cách biên tập Kinh cộng thêm chú giải về sau đã làm cho nhiều người nhầm lẫn giữa thiền định hữu vi hữu ngã do tập trung nỗ lực để đạt được sở đắc thiền định của Bà-la-môn - mà Bồ-tát đã từ bỏ - với chánh định vô vi vô ngã mà khi ngồi dưới cội cây bồ-đề Ngài buông xả hoàn toàn (ly dục, ly bất thiện pháp) để trả tâm về với bản chất rỗng lặng hồn nhiên như trẻ thơ, vì khi tâm định tịch tịnh như thế thì trí tuệ mới thật sự chiếu sáng (pabhassara-citta). Chỉ có chánh định này mới liên hệ với tuệ trong tu tập Tứ Niệm Xứ, còn định do bản ngã nỗ lực tác thành thì chỉ trở ngại cho tuệ giác mà thôi.

Trao đổi

Đăng nhập để cùng trao đổi về câu này.